- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn Anh "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, Phan Trọng K, Phan Trọng K Long phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày: 29 - 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Hải Âu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Hồng Thanh – Bí thư huyện đoàn CĐ;
Bà Ngô Hồng Điệp – Chuyên viên phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện CĐ;
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Văn Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Hải Yến– Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST – HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Bình Tuấn A (tên gọi khác: Bin), sinh ngày 05/6/2007, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp Phú Trung, xã Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Hữu Hạnh và bà Nguyễn Ánh Hằng; Anh chị em ruột 01 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Bản thân chưa có vợ, con. Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định số 40/QĐ-XPHC ngày 12/4/2023, Trưởng công an huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt Nguyễn Bình Tuấn A bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Nhân thân: Ngày 08/10/2023, có hành vi Trộm cắp tài sản bị Công an huyện Bến Lức khởi tố.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Lức từ ngày 19/10/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật cho bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A: Ông Huỳnh Hữu Hạnh, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Ánh Hằng, sinh năm 1981; Cùng địa chỉ: Ấp Phú Trung, xã Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; Tạm trú: Ấp Voi Lá, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A: Ông Nguyễn Phát Thành là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Long An (có mặt).
2. Phan Trọng K (tên gọi khác: Khánh Nhỏ), sinh ngày 02/8/2006, tại tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Khóm 1, phường Hộ phòng, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Trọng Vụ (đã chết) và bà Quách Thị Nhàn; Anh chị em ruột 01 người, bị cáo là con nhỏ trong gia đình; Bản thân chưa có vợ, con. Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại quyết định số 152/QĐ-XPHC ngày 14/11/2023, Trưởng công an huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt Phan Trọng K số tiền 1.250.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Nhân thân: Ngày 08/10/2023, có hành vi Trộm cắp tài sản bị Công an huyện Bến Lức khởi tố.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Lức từ ngày 17/10/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật cho bị cáo Phan Trọng K: Bà Quách Thị Nhàn, sinh năm 1974; Địa chỉ: Khóm 1, phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Phan Trọng K: Bà Phạm Thị Mai Trang là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Long An (có đơn xin vắng mặt, gửi bài bào chữa cho Hội đồng xét xử).
3. Phan Trọng K Long (tên gọi khác: không), sinh ngày 10/11/2002, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Trà Do, xã Lâm Kiết, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng; Tạm trú: Ấp Thanh Hiệp, xã Thạnh Phú, huyện Bến Lức, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Trọng K Út và bà Sơn Thị Bình; Anh chị em ruột 01 người, bị cáo là con nhỏ trong gia đình; Bản thân chưa có vợ, con. Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại quyết định số 39/QĐ-XPHC ngày 12/4/2023, Trưởng công an huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt Phan Trọng K Long số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Nhân thân: Ngày 08/10/2023 và ngày 23/10/2023, có hành vi Trộm cắp tài sản bị Công an huyện Bến Lức khởi tố.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Lức từ ngày 24/10/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Phan Trọng K Tèo, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp Long Quới A, xã Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; Chổ ở: Ấp 4, xã Long Cang, huyện CĐ, tỉnh Long An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Ánh Hằng, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp Phú Trung, xã Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Chỗ ở: Ấp Voi Lá, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (có mặt).
- Ông Huỳnh Hữu Hạnh, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp Phú Trung, xã Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Chỗ ở: Ấp Voi Lá, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 08/10/2023, Nguyễn Bình Tuấn A và Phan Trọng K đang ở thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An thì em của Tuấn A là Huỳnh Đăng Khoa, sinh năm 2012 gọi điện thoại cho Tuấn A nói cha, mẹ của Khoa là Huỳnh Hữu Hạnh và Nguyễn Ánh Hằng bị đánh. Tuấn A chở Khánh về phòng trọ của Khoa tại ấp Voi Lá, xã Long Hiệp, huyện Bến Lức thì nghe Khoa nói Hạnh và Hằng đang ở phòng trọ của Phan Trọng K Tèo tại ấp 4, xã Long Cang, huyện CĐ. Tuấn A rủ Khánh đi đánh Tèo, Khánh đồng ý. Sau đó, Tuấn A điều khiển xe chở Khánh đến phòng trọ của Phan Trọng K Long tại ấp Thanh Hiệp, xã Thanh Phú, huyện Bến Lức, Tuấn A nói với Long là ba mẹ Tuấn A bị đánh, kêu Long theo phụ, Long hiểu là Tuấn A rủ đi đánh nhau nên đồng ý đi cùng. Tuấn A điều khiển xe chở Khánh và Long đi đến phòng trọ của Tèo. Trên đường đi, khi qua cầu Rạch Chanh khoảng 01 km, Khánh nhìn thấy trên xe bán dừa đậu cập vỉa hè bên phải không người trông giữ có để 01 con dao bằng kim loại màu đen nên kêu Tuấn A dừng xe lại để lấy dao đi đánh nhau. Sau đó, Khánh xuống xe lấy dao giấu vào bên trong áo rồi tiếp tục lên xe cho Tuấn A chở đến phòng trọ của Tèo. Khi đến nơi, Tuấn A thấy Hạnh đứng ngoài đường, Tèo thì đứng trước cửa phòng trọ, Tuấn A đi đến hỏi Hằng thì Hằng nói với Tuấn A là Hạnh bị Tèo đánh. Tuấn A cầm nón bảo hiểm đi đến chỗ Tèo hỏi “sao đánh ba tôi” rồi dùng nón bảo hiểm đánh vào người Tèo, Tèo đi lùi vào trong phòng. Sau đó, Tuấn A kêu Long và Khánh vào cùng đánh Tèo, Long đi vào đánh Tèo bằng tay nhưng Tuấn A kéo ra, Khánh đi lại đứng đối diện với Tèo, cầm dao bằng tay phải chém từ trên xuống, Tèo đưa tay trái lên đỡ, bị thương tích ở lòng bàn tay. Khánh tiếp tục chém thêm 01 cái trúng vào cẳng tay trái của Tèo, Tèo la lên kêu cứu, nghe vậy thì Tuấn A, Khánh và Long bỏ đi ra ngoài. Sau đó, Tuấn A điều khiển xe chở Khánh và Long đi về phòng trọ. Trên đường đi, Tuấn A làm rơi mũ bảo hiểm, Khánh ném dao vào lề đường ở khu vực ấp 4, xã Long Cang. Tèo được đưa đến Bệnh viện Long An điều trị đến ngày 16/10/2023 thì xuất viện. Ngày 14/10/2023, Phan Trọng K Tèo có đơn yêu cầu xử lý hình sự.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 291/CN/2023 ngày 25/10/2023 của Bệnh viện đa khoa Long An thì tình trạng thương tích lúc vào viện của Phan Trọng K Tèo: vết thương lòng bàn tay trái #12cm từ ngón 1 đến kẻ ngón 4, 5: đứt 1 phần cơ mô cái, đứt bán phần gân gấp nông sâu ngón 3, đứt gân gấp nông sâu vùng 2 ngón 4, rách bao khớp liên đốt bàn và phạm 1 phần chỏm xương bàn 4; Vết thương nông ngón 5#2cm; Vết thương mặt trước trong cẳng tay trái #6cm. Chẩn đoán ra viện: Vết thương bàn tay trái đứt 1 phần mô cái, đứt bán phần gân gấp nông sâu ngón 3, đứt gân gấp nông sâu vùng 2 ngón 4, rách bao khớp liên đốt bàn và phạm 1 phần chỏm xương bàn 4/ Vết thương ngón 5 + Vết cẳng tay trái.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 383/KLTTCT-TTPY ngày 05/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Long An, kết luận thương tích của Phan Trọng K Tèo:
1. Các kết quả chính: Sẹo vết thương cẳng tay trái có kích thước trung bình; Sẹo vết thương mặt lòng bàn tay trái có kích thước lớn.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Trọng K Tèo tại thời điểm giám định là 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
+ Sẹo vết thương cẳng tay trái có kích thước trung bình. Tỷ lệ 02%.
+ Sẹo vết thương mặt lòng bàn tay trái có kích thước lớn. Tỷ lệ 03%.
Các vết thương trên có khả năng là do vật sắc gây ra.
Về vật chứng, quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện CĐ có tạm giữ: 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 37 cm, mũi bằng, phần cán dài 10cm, phần lưỡi dài 27cm, nơi rộng nhất phần lưỡi là 08cm, nơi hẹp nhất 04cm do Nguyễn Tuấn Kiệt nhặt được trên đường Tỉnh lộ 830B, đoạn thuộc ấp 4, xã Long Cang, huyện CĐ giao nộp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Trọng K Tèo yêu cầu các bị can bồi thường số tiền 41.000.000 đồng, gồm: chi phí điều trị 14.000.000 đồng và tiền mất thu nhập ba tháng 27.000.000 đồng. Gia đình Tuấn A đã bồi thường cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 21/CT-VKSCĐ ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An đã truy tố các bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, Phan Trọng K, Phan Trọng K Long về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, Phan Trọng K, Phan Trọng K Long khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ truy tố, xác định cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A là ông Nguyễn Phát Thành tranh luận: Ông hoàn toàn thống nhất với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức đề nghị về hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo Tuấn A là người chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội về sớm với gia đình, làm lại cuộc đời.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Phan Trọng K là bà Phạm Thị Mai Trang gửi bài bào chữa cho Hội đồng xét xử thể hiện: Bà hoàn toàn thống nhất với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức đề nghị về hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo Khánh là người chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội về sớm với gia đình, làm lại cuộc đời.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A và đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hữu Hạnh và bà Nguyễn Ánh Hằng trình bày: Ông Hạnh và bà Hằng thống nhất với diễn biến vụ việc mà nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ miêu tả, không có ý kiến gì thêm. Ông Hạnh và bà Hằng đồng ý dùng số tiền 11.000.000 đồng để bồi thường cho người bị hại, số tiền này đã giao trực tiếp cho bị hại tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CĐ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, Phan Trọng Khánh, Phan Trọng K Long thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A tác động gia đình khắc phục, bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A từ 06 tháng đến 01 năm tù.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Trọng K từ 06 tháng đến 01 năm tù. Đề nghị áp dụng Điều 104 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự 13/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Trọng K Long từ 06 tháng đến 01 năm tù. Đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự 13/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Về vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 37 cm, mũi bằng, phần cán dài 10cm, phần lưỡi dài 27cm, nơi rộng nhất phần lưỡi là 08cm, nơi hẹp nhất 04cm.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với yêu cầu bồi thường chi phí điều trị 14.000.000 đồng có hóa đơn, chứng từ nên có căn cứ chấp nhận, các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bị hại; đối với yêu cầu bồi thường 03 tháng tiền lương: theo giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa Long An cung cấp thể hiện bị hại nhập viện từ ngày 08/10/2023 đến 16/10/2023, do đó đề nghị chấp nhận yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất của bị hại là 01 tháng lương theo giấy xác nhận lương bị hại cung cấp.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận; Lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo Khánh, người bào chữa chỉ định của bị cáo Khánh có đơn xin vắng mặt và có gửi bài phát biểu bào chữa, bị hại vắng mặt. Tuy nhiên những người này có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, riêng bị cáo Khánh đồng ý xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp theo pháp luật và người bào chữa chỉ định cho bị cáo nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người này.
Xét nội dung vụ án: Qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 08/10/2023, Nguyễn Bình Tuấn A rủ Phan Trọng K và Phan Trọng K Long đến nhà Phan Trọng K Tèo ở ấp 4, xã Long Cang, huyện CĐ, mục đích để đánh Tèo chỉ vì Tuấn A nghe nói cha mẹ Tuấn A bị Tèo đánh. Khi đi, Khánh có lấy đem theo 01 con dao bằng kim loại màu đen, dài 37cm, mũi bằng làm hung khí để đánh nhau. Khi đến nhà của Phan Trọng K Tèo, Tuấn A dùng mũ bảo hiểm đánh Tèo, Long dùng tay đánh, Khánh dùng dao bằng kim loại chuẩn bị từ trước chém trúng lòng bàn tay tay trái và cẳng tay của Tèo gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 5%. Tại thời điểm thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hành sự, nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả xảy ra nhưng vì nóng nảy không kiềm chế, xem thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác mà thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với 02 tình tiết định khung là “dùng hung khi nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, Phan Trọng K, Phan Trọng K Long đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, Phan Trọng K, Phan Trọng K Long đều có nhân thân xấu, đều có tiền sự bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, cả 03 bị cáo đang bị Công an huyện Bến Lức khởi tố, bắt tạm giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; riêng bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A tác động gia đình khắc phục, bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an của địa phương. Hành vi của các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công trước, không có sự cấu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm có tính chất giản đơn. Bị cáo Tuấn A là người khởi sướng rủ rê các bị cáo khác tham gia, bị cáo Khánh là người dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật là 5%, bị cáo Long là người dùng tay đánh giúp sức về mặt tinh thần. Mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo Tuấn A và Khánh là ngang nhau và cao hơn bị cáo Long nhưng do Tuấn A có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn Khánh và Long, Tuấn A và Khánh lại phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên mức hình phạt cao nhất không quá ¾ mức phạt tù áp dụng đối với người đã thanh niên do đó mức phạt đề nghị đối với 03 bị cáo là ngang nhau.
Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức độ thực hiện hành vi của từng bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ cho một phần hình phạt cho các bị cáo.
Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ tỉnh Long An là có căn cứ nên được chấp nhận. Lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Tuấn A, bị cáo Khánh là có căn cứ nên chấp nhận.
Về vật chứng vụ án, trong quá trình điều tra thu giữ 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 37 cm, mũi bằng, phần cán dài 10cm, phần lưỡi dài 27cm, nơi rộng nhất phần lưỡi là 08cm, nơi hẹp nhất 04cm, là hung khí của vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Trọng K Tèo yêu cầu các bị cáo khắc phục hậu quả số tiền 41.000.000 đồng, gồm: chi phí điều trị 14.000.000 đồng và tiền mất thu nhập ba tháng 27.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo Tuấn A đã khắc phục cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng. Bị hại Phan Trọng K Tèo tiếp tục yêu cầu các bị các bồi thường tiếp số tiền 30.000.000 đồng, trong đó chi phí điều trị là 3.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của 03 tháng lương là 27.000.000 đồng. Đối với chi phí điều trị có hóa đơn, chứng từ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với số tiền mất thu nhập 03 tháng, thấy rằng theo giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa Long An cung cấp thể hiện bị hại nhập viện từ ngày 08/10/2023 đến 16/10/2023 và theo giấy ra viện ngày 16/10/2023 nội dụng đề nghị cho bệnh nhân nghỉ thêm 5 ngày từ ngày 17/10/2023 đến ngày 21/10/2023. Như vậy thời gian mất thu nhập của bị hại là 13 ngày. Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại 01 tháng lương mất thu nhập theo giấy xác nhận lương của bị hại cung cấp. Lời đề nghị của các bị cáo là tự nguyện, có lợi cho người bị hại nên được chấp nhận. Đồng thời các bị cáo Tuấn A, bị cáo Khánh là người chưa đủ 18 tuổi, không có tài sản, công việc tạo thu nhập nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 586 Bộ luật dân sự, buộc các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại 01 tháng tiền mất thu nhập và 3.000.000 đồng tiền chi phí điều trị, tổng cộng là 15.000.000 đồng.
Xem xét tổng hợp hình phạt: Ngày 22/02/2024, bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, bị cáo Phan Trọng K, bị cáo Phan Trọng K Long bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự theo bản án số 13/2024/HS-ST, bản án có hiệu lực ngày 23/3/2024. Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, Tòa án nhân dân huyện CĐ tổng hợp hình phạt của các bị cáo. Riêng bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức xử phạt 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/10/2023, như vậy tính đến ngày 19/4/2024 bị cáo Tuấn A chấp hành xong hình phạt tù của bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức nên Tòa án nhân dân huyện CĐ không tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A.
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016, buộc các bị cáo phải chịu án phí hính sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, Phan Trọng K, Phan Trọng K Long phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Trọng K: 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 17/10/2023.
- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Trọng K Long: 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 năm 03 tháng tù tại Bản án số 13/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 24/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 37 cm, mũi bằng, phần cán dài 10cm, phần lưỡi dài 27cm, nơi rộng nhất phần lưỡi là 08cm, nơi hẹp nhất 04cm.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu ngày 07/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CĐ, tỉnh Long An)
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 586, 590 Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, Phan Trọng K, Phan Trọng K Long, Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A là ông Huỳnh Hữu Hạnh và bà Nguyễn Ánh Hằng, Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo Phan Trọng K là bà Quách Thị Nhàn liên đới bồi thường cho ông Phan Trọng K Tèo số tiền là 15.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, bị cáo Phan Trọng K, bị cáo Phan Trọng K Long phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A, Phan Trọng K, Phan Trọng K Long, Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Bình Tuấn A là ông Huỳnh Hữu Hạnh và bà Nguyễn Ánh Hằng, Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị cáo Phan Trọng K là bà Quách Thị Nhàn liên đới chịụ 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, Người bào chữa chỉ định cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người đại diện theo pháp luật của bị cáo, Người bào chữa chỉ định cho bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện CĐ; - CC THADS huyện CĐ; - Sở Tư pháp tỉnh Long An; - Công an huyện CĐ; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẦM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hải Âu |