- Tranh chấp gì? án hình sự — "HỨA THỊ KIM T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hứa Thị Kim T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 428/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HS-PT Ngày 16 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Thúy
Các Thẩm phán:
Ông Phan Tô Ngọc
Ông Nguyễn Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 751/2023/HSPT ngày 04 tháng 10 năm 2023. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 428/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo:
Hứa Thị Kim T; giới tính: Nữ; sinh ngày 20/6/2001 tại tỉnh Sóc Trăng; hộ khẩu thường trú: Ấp K, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; nơi ở hiện tại: I L, khu phố G, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Hứa Hoàng Đ và bà Lý Thị T1; Có chồng và 01 con sinh ngày 12/01/2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 30/5/2022 đến ngày 05/6/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo theo Luật định: Luật sư Đặng Thanh S - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt)
(Trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Sơn Hồng V từ tỉnh Sóc Trăng đến Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, tạm trú tại địa chỉ số A đường L, Khu phố F, phường T, quận B cùng với 02 người con là trẻ Trần Nhựt Đ1 (sinh năm 2012) và trẻ Trần Nhựt Thiên K (sinh ngày 01/01/2021). Do đi làm công nhân tại Công ty P nên từ khoảng tháng 11/2021, chị V gửi con gái Trần Nhựt Thiên K cho cháu họ là Hứa Thị Kim T trông coi, chăm sóc cháu K từ 07 giờ đến 17 giờ hàng ngày tại nơi ở của T, địa chỉ số I đường L, Khu phố G, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, với thỏa thuận trả công là 1.500.000 đồng/tháng.
Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 27/5/2022, chị V gửi trẻ K cho T chăm sóc như hàng ngày, từ 08 giờ đến 12 giờ cùng ngày, T cho cháu Kim ăn cháo và uống sữa như hằng ngày, do trẻ Kim nôn ói làm T phải lau dọn nhiều lần, nên T đi đến chỗ trẻ K đang nằm dưới nền nhà T khụy gối xuống, bàn tay phải co thành nắm đấm rồi đấm theo hướng từ trên xuống vào vùng bụng trẻ K khoảng 3 đến 4 cái, trẻ Kim khóc thét lên rồi tự bò qua chỗ khác trên nền nhà ngồi, một lát sau trẻ Kim nín khóc rồi nằm xuống nền nhà, đánh trẻ K xong, T đi ra ngoài đem cơm cho mẹ ruột là bà Lý Thị T1 thì thấy trẻ K vẫn còn ho và khi T về đến nhà thấy trẻ K tiếp tục nôn ói ra sàn nhà, T liền dùng tay trái nắm tay trẻ Kim kéo qua sát gần đầu giường, lúc này trẻ K đang nằm nghiêng hông bên trái áp xuống đất, hông phải hướng lên trên thì T khụy gối xuống dùng tay phải co thành nắm đấm rồi đấm thẳng từ trên xuống vùng hông bên phải trẻ K khoảng 3 đến 4 cái làm trẻ Kim khóc thét lên rồi bò đến gần hàng rào ngăn cách cửa trong nhà (dùng để ngăn không cho các cháu đi ra ngoài) ngồi và không khóc nữa. T lau dọn chỗ nôn ói của trẻ K rồi bảo trẻ K đi ngủ còn T nằm trên giường bấm điện thoại. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, trẻ T2 (là con của T) ngủ dậy la khóc nên T ngồi dậy, T nhìn thấy trẻ Kim nôn ói ra dịch vàng, mặt trẻ Kim lừ đ và tím tái nên T lau chỗ ói rồi giặt khăn, sau đó T bế trẻ K vào nhà tắm cho trẻ K nhưng trẻ Kim không đứng dậy được nên T gọi điện thoại cho bà T1 thì bà T1 nói bôi dầu cho trẻ K và đợi bà T1 về, T tiếp tục điện thoại cho chị V (mẹ của trẻ K) báo trẻ K bị tím tái do bị sặc sữa. Đến khoảng 12 giờ 35 phút cùng ngày, bà T1 về rồi cùng T đưa trẻ K đến Bệnh viện B cấp cứu, nhưng bác sĩ thông báo trẻ K đã tử vong trước khi đến Bệnh viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 939/TT.22 ngày 10/6/2022, của Trung tâm Pháp y Thành phố H, kết luận nguyên nhân chết của trẻ Trần Nhựt Thiên K như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Các dấu hiệu chính khi khám nghiệm: Nạn nhân mệt tại nơi ở và đã chết trước khi nhập viện. Có thương tích bầm tụ máu tại hông phải, bụng cạnh phải rốn. Tụ máu nhiều chỗ dưới da đầu và bầm tụ máu tại đùi trái. Hai phổi phù, dập rải rác. Ổ bụng có máu đông và không đông. Dập vỡ gan phải nông. Dập rách mạc treo ruột non. Dập vỡ ruột non.
- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học: Tụ máu dưới da đầu, da hông phải và da đùi. Máu đông giai đoạn viêm cấp. Dập tâm nhĩ. Dập phổi rải rác. Phù phổi cấp. Vỡ gan. Dập lách. Dập rách ruột non. Dập rách mạc treo.
- Kết quả xét nghiệm độc chất: Không phát hiện các chất thường gặp trong ngưỡng tử vong.
2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
3. Kết luận khác:
- Chấn thương tại vùng bụng của nạn nhân do tác động mạnh của ngoại lực (không phải bệnh lý), xảy ra trong vòng 4 đến 6 tiếng trước khi tử vong.
- Hành vi dùng nắm tay đánh mạnh nhiều lần vào vùng bụng của nạn nhân như đương sự T khai và thực hiện trong thực nghiệm phù hợp về thời gian và các thương tích trong ổ bụng như đã giám định.
- Chấn thương tại vùng bụng là nguyên nhân làm nạn nhân tử vong.”
- Về trách nhiệm dân sự:
Chị Sơn Hồng V (mẹ của trẻ Trần Nhựt Thiên K) cho biết sẽ có ý kiến về việc bồi thường tại Tòa án.
Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội “Giết người”, thuộc trường hợp “Giết người dưới 16 tuổi”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 428/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Căn cứ vào các điểm s, b khoản 1 Điều 51; Điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017);
Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106, Điều 107, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố bị cáo Hứa Thị Kim T phạm tội “Giết người”.
Xử phạt:
Bị cáo Hứa Thị Kim T tù chung thân.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án
Ngoài ra, bản án sơ thẩm đã tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023, bị cáo Hứa Thị Kim T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Hứa Thị Kim T thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do việc bị cáo phạm tội là do thiếu kiềm chế khi trẻ K nhiều lần nôn ói chứ bị cáo không cố ý giết trẻ K, bị cáo đã rất ân hận về hành vi của mình. Hiện nay, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo phải chăm sóc con nhỏ và cha mẹ già nhưng sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo vẫn cố gắng bồi thường thêm cho gia đình bị hại 180 triệu đồng.
Người bảo chữa cho bị cáo là Luật sư Đặng Thanh S trình bày: Không đồng ý tội danh mà Tòa án sơ thẩm đã xét xử bị cáo vì bị cáo không cố ý giết trẻ K, bị cáo không có mâu thuẫn gì với bị hại hay mẹ bị hại mà bị cáo đánh bé Kim chỉ vì nóng giận tức thời nhưng không nhằm mục đích tướt đoạt tính mạng của bị hại. Mặt khác, sau khi phát hiện bị hại có biểu hiện bất thường thì bị cáo đã gọi điện thoại cho mẹ trẻ K và đưa trẻ K đi cấp cứu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chuyển tội danh của bị cáo thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự. Đồng thời, đề nghị áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo đã bồi thường thêm cho bị hại 180.000.000 đồng, phạm tội do bị ảnh hưởng bởi tâm lý sau sinh, bị cáo là người dân tộc thiểu số, học vấn thấp, trình độ nhận thức pháp luật hạn chế, đại diện bị hại có đơn xin bãi nại, bị cáo có nhân thân tốt, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T tù chung thân về tội “Giết người” theo quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hứa Thị Kim T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
. Khoảng 07 giờ 20 phút, ngày 27/5/2022, chị V gửi trẻ K cho T chăm sóc như hàng ngày, từ 08 giờ đến 12 giờ cùng ngày, T cho trẻ Kim ăn cháo và uống sữa, do trẻ Kim nôn ói làm T phải lau dọn nhiều lần, nên T đi đến chỗ trẻ K đang nằm dưới nền nhà T khụy gối xuống, bàn tay phải co thành nắm đấm rồi đấm theo hướng từ trên xuống vào vùng bụng trẻ K khoảng 3 đến 4 cái, trẻ Kim khóc thét lên rồi tự bò qua chỗ khác trên nền nhà ngồi, một lát sau trẻ Kim nín khóc rồi nằm xuống nền nhà, đánh trẻ K xong, T đi ra ngoài đem cơm cho mẹ ruột là bà Lý Thị T1 thì thấy trẻ K vẫn còn ho và khi T về đến nhà thấy trẻ K tiếp tục nôn ói ra sàn nhà, T liền dùng tay trái nắm tay trẻ Kim kéo qua sát gần đầu giường, lúc này trẻ K đang nằm nghiêng hông bên trái áp xuống đất, hông phải hướng lên trên thì T khụy gối xuống dùng tay phải co thành nắm đấm rồi đấm thẳng từ trên xuống vùng hông bên phải trẻ K khoảng 3 đến 4 cái làm trẻ Kim khóc thét lên rồi bò đến gần hàng rào ngăn cách cửa trong nhà (dùng để ngăn không cho các cháu đi ra ngoài) ngồi và không khóc nữa. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, trẻ T2 (là con của T) ngủ dậy la khóc nên T ngồi dậy, T nhìn thấy trẻ Kim nôn ói ra dịch vàng, mặt trẻ Kim lừ đ và tím tái nên T lau chỗ ói rồi giặt khăn, sau đó T bế trẻ K vào nhà tắm cho trẻ K nhưng trẻ Kim không đứng dậy được nên T gọi điện thoại cho bà T1 thì bà T1 nói bôi dầu cho trẻ K và đợi bà T1 về, T tiếp tục điện thoại cho chị V (mẹ của trẻ K) báo trẻ K bị tím tái do bị sặc sữa. Đến khoảng 12 giờ 35 phút cùng ngày, bà T1 về rồi cùng T đưa trẻ K đến Bệnh viện B cấp cứu, nhưng bác sĩ thông báo trẻ K đã tử vong trước khi đến Bệnh viện.
. Chỉ vì sự bực tức do trẻ Thiên Kim nôn ói ra nền nhà khiến bị cáo phải lau dọn nhiều lần, bị cáo đã nhiều lần dùng bạo lực gây tổn thương nghiêm trọng thân thể trẻ Kim chỉ mới hơn 01 tuổi làm trẻ K tử vong, thể hiện sự coi thường pháp luật, tính mạng con người.
. Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hứa Thị Kim T phạm tội “Giết người” theo điểm b, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ đúng người, đúng tội.
. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại là trẻ em, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, do đó cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự và áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, từ đó xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù chung thân là phù hợp với quy định pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xuất trình tình tiết bị cáo đã bồi thường thêm cho gia đình bị hại 180.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung tăng nặng và 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội đối với trẻ em mới chỉ hơn 01 tuổi không có khả năng tự vệ là đối tượng được pháp luật đặc biệt bảo vệ, gây dư luận xấu trong xã hội nên tình tiết nêu trên không làm thay đổi đáng kể tính nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Hơn nữa, tình tiết giảm nhẹ này cũng đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Do đó, kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên mức hình phạt tù chung thân đối với bị cáo.
. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Hứa Thị Kim T phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hứa Thị Kim T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 428/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Căn cứ vào các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2017);
Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Hứa Thị Kim T phạm tội “Giết người”.
2. Xử phạt bị cáo Hứa Thị Kim T tù chung thân.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hứa Thị Kim T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Công an TP.HCM; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Cục THADS TP.HCM; - Bị cáo; - UBND phường nơi bị cáo cư trú ; - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Thị Thanh Thúy |