- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Gâm Hoanh"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-3-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Sơn Tây;
2/ Ông Nguyễn Văn Thảo.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 449/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng G, sinh năm 1984; thường trú: Ấp Hưng Th, xã Đào Hữu C, huyện Châu P, tỉnh An Giang; tạm trú: Nhà trọ Đỗ Tấn Trung, khu phố Long B, phường K, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Có mặt
Bị đơn: Ông Phan Bữu H, sinh năm 1980; thường trú: Ấp Hưng Thuận, xã Đào H, huyện B, tỉnh An Giang; tạm trú: Nhà trọ Đỗ Tấn Trung, khu phố Long B, phường H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Bữu H và bà Lê Thị Hồng G chung sống trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 25/8/2006. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H không chí thú làm việc, ham chơi, không quan tâm đến vợ, con. Hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 05/2023 đến nay, không còn quan tâm tới cuộc sống của nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, bà G yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Phú Cường, sinh ngày 14/10/2009. Khi ly hôn, bà Lê Thị Hồng G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu ông Phan Bữu H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn ông Phan Bữu H đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng, các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng quy định.
Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng bà Lê Thị Hồng G, ông Phan Bữu H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng G khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phan Bữu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông H.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Bữu H và bà Lê Thị Hồng G là những người đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, có đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Ông Phan Bữu H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hoà giải, tham gia phiên toà nhưng ông Phan Bữu H không đến và không có ý kiến, điều này cho thấy ông Phan Bữu H không quan tâm, không thiện chí, không mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con chung, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng ông Phan Bữu H, bà Lê Thị Hồng G là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Hồng G yêu cầu được ly hôn với ông Phan Bữu H là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Con chung còn nhỏ, hiện đang sống chung với Lê Thị Hồng G, bà G có nguyện vọng tiếp tục nuôi con, cần thiết giao con cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lê Thị Hồng G không yêu cầu ông Phan Bữu H cấp dưỡng nuôi con, là ý chí tự nguyện của bà G nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng G đối với bị đơn ông Phan Bữu H như sau:
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng G được ly hôn ông Phan Bữu H.
- Về con chung: Giao con chung tên Phan Phú Cường, sinh ngày 14/10/2009 cho bà Lê Thị Hồng G được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận tự nguyện của bà Lê Thị Hồng G về việc không yêu cầu ông Phan Bữu H cấp dưỡng nuôi con.
Ông Phan Bữu H và bà Lê Thị Hồng G đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Hồng G phải nộp số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001796 ngày 25/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bà Lê Thị Hồng G đã thực hiện xong.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố Tân Uyên (01); - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên (01); - Các đương sự (03); - Lưu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hưởng |