vanban.org

Bản án 19/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ con chung: Giao con chung Phan Tuấn A (Giới tính: nam), sinh ngày 01/05/2021 cho anh Phan Trọng H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn của chị Thái Thị H như sau: Chị Thái Thị H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Phan Trọng H1 mỗi tháng 1.000.000đ(Một triệu đồng) kể từ tháng 03/2024 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ con chung: Giao con chung Phan Tuấn A (Giới tính: nam), sinh ngày 01/05/2021 cho anh Phan Trọng H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 02 năm 2024
(V/V: Tranh chấp hôn nhân và gia đình)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Lê Anh Đức – Bà Phan Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Sáng - Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên

tòa:Không tham gia.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:43/2024/QĐXX-ST ngày 05/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐ-HPT ngày 19 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thái Thị H - sinh ngày 01/07/1992. (Có mặt)

Địa chỉ: Xóm A, xã C, huyện Y, Nghệ An

- Bị đơn: Anh Phan Trọng H1 - sinh ngày 15/12/1993.

Địa chỉ: Xóm A, xã C, huyện Y, Nghệ An

(Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa thì vụ án có nội dung:

Chị Thái Thị H và anh Phan Trọng H1 cưới nhau vào tháng 02/2020, trước khi tiến tới hôn nhân chị H và anh H1 có quá trình tìm hiểu, hôn nhân tự nguyện. Chị H, anh H1 làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 27/2020, ngày 24/02/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến ngày 29 tháng 12/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu theo chị H trình bày là do tính tình vợ chồng không phù hợp, không tìm được hòa hợp trong hôn nhân, bất đồng về quan điểm sống, nên vợ chồng xung đột với nhau qua cách xử sự, có những lời nói không đúng mực với nhau. Mâu thuẫn xẩy ra ngày càng sâu sắc trầm trọng, vợ chồng sống thiếu niềm tin đối với nhau, dẫn đến hôn nhân đổ vỡ.

Do mâu thuẫn vợ chồng không sống được với nhau chị H đã bỏ về bên ngoại sống ly thân đối với anh H1 từ ngày 19/12/2023 cho đến nay. Quá trình sống ly thân chị H, anh H1 không liên lạc níu kéo hôn nhân. Chị H xác định hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã tan rã đỗ vỡ không thể hàn gắn, đề nghị tòa án giải quyết ly hôn anh Phan Trọng H1.

-Về quan hệ con chung: Vợ chồng có với nhau 01 con chung cháu Phan Tuấn A (Giới tính: nam), sinh ngày 01/05/2021. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do anh H1 và bà nội trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị H đi lại thăm nom chăm sóc con chung thường xuyên. Trong nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai chị H yêu cầu giao con chung cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con. Nhưng tại phiên tòa chị H trình bày trong thời gian sống ly thân con chung được anh H1 và ông bà nội chăm sóc nuôi dưỡng, chị không muốn thay đổi hay làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt của con, nên chị đề nghị giao con chung cho anh H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng, kể từ tháng 03/2024 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi.

- Về quan hệ tài sản: Chị Thái Thị H không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Phan Trọng H1 sau khi Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng trực tiếp tại nhà cho anh H1, yêu cầu anh có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án, tại các Biên bản giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án anh H1 đã ký nhận và ghi rõ “Tôi không bỏ vợ”. Tuy nhiên do không đồng ý ly hôn nên anh không hợp tác, không đến Tòa án để giải quyết, Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến trình bày của anh trong quá trình hòa giải để lưu tại hồ sơ. Song qua các tài liệu, chứng cứ do chị Thái Thị H cung cấp, xác minh tình trạng hôn nhân, con chưa thành niên tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị H, anh H1 cơ bản đúng như chị H trình bày .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

-Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện qui định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng yêu cầu chị H, anh H1 có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng anh H1 không chấp hành, không hợp tác. Do đó Tòa án đã lập biên bản theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất đối với các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn chị Thái Thị H có mặt, bị đơn anh Phan Trọng H1 vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa trong đó ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án. Tòa án tiếp tục tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai cho chị H, anh H1. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn chị H có mặt, bị đơn anh H1 tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn anh Phan Trọng H1.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Thái Thị H và anh Phan Trọng H1 đảm bảo đúng quy định của pháp luật, việc dẫn tới hôn nhân giữa anh chị là hoàn toàn tự nguyện. Trước khi cưới anh chị đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 27/2020, ngày 24/02/2020, qua đó thấy hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã xảy ra ngày càng trầm trọng và sâu sắc, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không tìm được sự hòa hợp trong hôn nhân, sống thiếu niềm tin đối với nhau, mâu thuẫn xẩy ra ngày càng trầm trọng dẫn đến hôn nhân đỗ vỡ, các bên sống ly thân từ ngày 29/12/2023. Quá trình sống ly thân chị H, anh H1 đã không liên lạc với nhau, không có ý thức níu kéo hôn nhân để đoàn tụ mà đã cắt đứt các quan hệ vợ chồng. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị H và anh H1 thực sự đổ vỡ, tan rã, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Thái Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H1 là có căn cứ, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Thái Thị H được ly hôn anh Phan Trọng H1.

Về quan hệ con chung: Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung của vợ chồng được anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, mặc dù con chung chưa đủ 36 tháng tuổi, nhưng anh H1 vẫn nuôi con tốt, dạy con ngoan, con chung phát triển tốt về nhiều mặt, thể hiện người bố có trách nhiệm cao đối với con chung. Hơn nữa tại phiên tòa chị H trình bày trong thời gian sống ly thân con chung được anh H1 và ông bà nội chăm sóc nuôi dưỡng, chị không muốn thay đổi hay làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt của con, chị đề nghị giao con chung cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung là sự tự nguyện, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi con chung của vợ chồng, nên cần chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Thái Thị H.

-Về Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh H1 trực tiếp nuôi con chung, chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H1 mỗi tháng 1.000.000 đồng là thể người mẹ có trách nhiệm cao đối với con chung, nên cần chấp nhận việc tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung của chị H.

Về quan hệ tài sản: Chị Thái Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.

Về án phí: Buộc chị Thái Thị H phải nộp án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107 và

Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình. Xử: 1.Về quan hệ tình cảm: Chị Thái Thị H được ly hôn anh Phan Trọng H1.

2.Về quan hệ con chung: Giao con chung Phan Tuấn A (Giới tính: nam), sinh ngày 01/05/2021 cho anh Phan Trọng H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn của chị Thái Thị H như sau:

Chị Thái Thị H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Phan Trọng H1 mỗi tháng 1.000.000đ(Một triệu đồng) kể từ tháng 03/2024 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày anh Phan Trọng H1 làm đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nói trên, nếu chị Thái Thị H không thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Chị Thái Thị H người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom chăm sóc con chung không được ai cản trở, ngăn cấm.

Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự: Điều 26: Điều 27

của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Buộc: Chị Thái Thị H nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm. Án phí chị H phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai nộp tiền số: 0002480 ngày 05/01/2024, chị H còn phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm. 4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã C, huyện Y, Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ