- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HNGĐ - ST Ngày: 25-3-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh T.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngẫu.
Bà Mai Thị Huệ.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Xuân – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 916/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QĐST- HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Tổ 6, ấp AB, xã BA, huyện LT, tỉnh ĐN.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1988.
Địa chỉ thường trú: Ấp 11, xã BS, huyện LT, tỉnh ĐN.
Nơi sinh sống: D18 khu tái định cư LA, xã LA, huyện LT, tỉnh ĐN.
(Chị T, anh H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/11/2023 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Trần Thị Thu T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 31 tháng 7 năm 2020. Việc kết hôn do chị và anh H đều tự nguyện. Nay chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Nguyên nhân chị T yêu cầu ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Chị và anh H đã sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Hiện chị T xác định không còn tình cảm với anh H, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị T khai chị và anh H có một người con chung tên Nguyễn Hoàng Đức Huy, sinh ngày 15/11/2020. Ly hôn, chị T đề nghị giao cháu Đức Huy cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng vì từ khi ly thân đến nay cháu Huy sinh sống cùng anh H và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Chị T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt nên không có lời khai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T; Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Đức Huy, sinh ngày 15/11/2020 cho anh Nguyễn Văn H tiếp tục nuôi dưỡng. Tạm thời chị T không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Thu T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên Tòa và giấy triệu tập nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu T và anh Nguyễn Văn H xây dựng gia đình với nhau năm 2020, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Bình An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 31 tháng 7 năm 2020 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho anh H biết để đến Tòa làm việc nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, do đó không có lời khai của anh H tại hồ sơ.
Chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh H với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 04/2023 đến nay không bàn bạc đoàn tụ được. Do đó, xác định chị T và anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị T và anh H có 01 người con chung tên là Nguyễn Hoàng Đức Huy, sinh ngày 15/11/2020. Chị T có nguyện vọng giao cháu Đức Huy cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét chị T trình bày thời gian qua anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huy tốt và anh H cũng không có ý kiến phản ánh hay yêu cầu gì đối với việc nuôi con chung tại địa phương cũng như tại Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Đức Huy cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T khai không cấp dưỡng nuôi con, anh H không có ý kiến trình bày nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trần Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 174, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Trần Thị Thu T đối với anh Nguyễn Văn H.
Xử cho chị Trần Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Đức Huy, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2020 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời chị Trần Thị Thu T không cấp dưỡng nuôi con.
Chị T được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí: Chị Trần Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0008058 ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Chị T và anh H được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND huyện Long Thành (1); - Chi cục THADS huyện Long Thành (1); - UBND xã Bình An (GCNKH số 36 ngày 31/7/2020) (1); - Các đương sự (2); - Lưu (3). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Minh T |