- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngũ Thị Dung ly hôn Hoàng Thanh H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho chị Ngũ Thị D ly hôn anh Hoàng Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/9/2024 V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Tăng Thị Dân;
2. Bà Sái Thị Kim Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lục Văn Biên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hoài Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn chị Ngũ Thị D, sinh năm 1995.
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn anh Hoàng Thanh H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngũ Thị D trình bày có nội dung:
Về tình trạng hôn nhân: chị Ngũ Thị D và anh Hoàng Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 03/10/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, cuộc sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp. Hai bên đã tìm cách khắc phục để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Sau khi mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng đã được gia đình hòa giải tìm mọi biện pháp nhằm khắc phục mâu thuẫn nhưng đều không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng vợ chồng đã ly thân từ tháng 02/2024 đến nay. Hiện tại không ai còn quan tâm dành tình cảm cho nhau. Đến nay, chị Ngũ Thị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, nếu hôn nhân tiếp tục duy trì, không đem lại hạnh phúc cho nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh Hoàng Thanh H.
Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng chị Ngũ Thị D và anh Hoàng Thanh H có 01 con chung là Hoàng Đăng D, sinh ngày 08/01/2017, hiện đang ở với anh H. Ly hôn, chị D đề nghị giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Hoàng Thanh H đều không có mặt tham gia tố tụng. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hoàng Thanh H thể hiện quan điểm như sau:
Về hôn nhân: dù đã cố gắng thuyết phục nhưng chị Ngũ Thị D kiên quyết xin ly hôn nên cũng đồng ý.
Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân anh Hoàng Thanh H và chị Ngũ Thị D có 01 con chung là Hoàng Đăng D, sinh ngày 08/01/2017, hiện chị D đã đưa con về ở cùng anh H. Ly hôn, anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung, do anh H là lao động tự do nhưng có thu nhập ổn định khoảng 7.000.000 đồng một tháng.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 21/8/2024, Phó Trưởng thôn Đ, xã Đ, huyện B xác nhận chị Ngũ Thị D và anh Hoàng Thanh H sau khi kết hôn về sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đến nay khoảng vài tháng gần đây, nguyên nhân do cụ thể thì không rõ, vợ chồng có 01 con Hoàng Đăng D, sinh ngày 08/01/2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về trình tự thủ tục tố tụng: đối với Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng, nguyên đơn và bị đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngũ Thị D; giao cho anh Hoàng Thanh H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Đăng D, sinh ngày 08/01/2017 cho đến khi thành niên; chị Ngũ Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh nhận định:
. Về trình tự thủ tục tố tụng:
Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh thụ lý và giải quyết vụ án về ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn số: 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/7/2024, giữa nguyên đơn chị Ngũ Thị D với bị đơn anh Hoàng Thanh H có địa chỉ tại xã Đ, huyện B là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngũ Thị D và anh Hoàng Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 03/10/2016 là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn vợ chồng chị Ngũ Thị D và anh Hoàng Thanh H đã trầm trọng, không khắc phục được, đến nay không ai còn quan tâm, dành tình cảm cho nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Thanh H không có mặt để tham gia phiên hòa giải do Tòa án tiến hành, mặc dù đều được Tòa án thông báo hợp lệ, chứng tỏ anh Hoàng Thanh H cũng không có nguyện vọng hòa giải để khắc phục mâu thuẫn tình cảm vợ chồng. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H cũng đã thể hiện quan điểm đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị D. Vì vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ngũ Thị D và anh Hoàng Thanh H đã đến mức trầm trọng không thể khắc phục được, nếu tiếp tục duy trì, không mang lại hạnh phúc cho nhau. Cho nên, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngũ Thị D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về nuôi dưỡng con chung:
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng chị Ngũ Thị D và anh Hoàng Thanh H có 01 con chung là Hoàng Đăng D, sinh ngày 08/01/2017, hiện đang ở với anh Hoàng Thanh H. Để ổn định và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung chưa thành niên nên giao cho anh Hoàng Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Đăng D cho đến khi thành niên; chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng là phù hợp theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về án phí: chị Ngũ Thị D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: cho chị Ngũ Thị D ly hôn anh Hoàng Thanh H.
2. Về nuôi dưỡng con chung:
2.1. Giao cho anh Hoàng Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Đăng D, sinh ngày 08/01/2017 kể từ tháng 9 năm 2024 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
2.2. Chị Ngũ Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
2.4. Sau khi ly hôn chị Ngũ Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; anh Hoàng Thanh H và các thành viên gia đình không được cản trở anh chị Ngũ Thị D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: chị Ngũ Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005337 ngày 17/7/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
4. Về quyền kháng cáo: chị Ngũ Thị D và anh Hoàng Thanh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Bình Liêu; - Chi cục THADS huyện Bình Liêu; - UBND xã Đ, huyện B (nơi đăng ký kết hôn); - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Nam |