- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ H-LƯƠNG THANH S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HN-ST Ngày: 27/02/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Thị Nhặc
2.Ông Phạm Văn Nam
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 534/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXX-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-HN ngày 19/02/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; ( Xin vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: số nhà B khu phố D, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ hiện nay: số nhà 263 khu phố 4, thị trấn Mỏ Cày, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre
2. Bị đơn: Anh Lương Thanh S, sinh năm 1984; (Vắng mặt)
Địa chỉ: số nhà B khu phố D, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh S do tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc cùng chăm lo phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả nhau về vấn đề kinh tế gia đình, con cái. Vợ chồng đã trao đổi hàn gắn với nhau nhưng không thành mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.
Vợ chồng ly thân từ năm 2020 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không có trao đổi, hàn gắn tính cảm với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh S.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung cháu Lương Thanh T, sinh ngày 22/03/2012 và cháu Lương Thị Quỳnh N, sinh ngày 29/11/2016 khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lương Thanh S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
Chị Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Anh Lương Thanh S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị xét xử vắng mặt chị H, anh S.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.
Về con chung: Có 02 con chung cháu Lương Thanh T, sinh ngày 22/03/2012 và cháu Lương Thị Quỳnh N, sinh ngày 29/11/2016 khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Thấy rằng, từ khi anh chị ly thân con chung sống với chị H có cuộc sống ổn định, hiện nay các cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn, tại biên bản lấy ý kiến con cháu T và cháu N đều trình bày có nguyện vọng được sống với mẹ, đồng thời anh S cũng không có ý kiến đối với con chung. Do đó, để đảm bảo môi trường sống và phát triển bình thường của con chung, khi ly hôn giao hai con chung cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[ 1]. Về tố tụng:
Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện và yêu cầu của chị Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Lương Thanh S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh S.
. Về nội dung:
2.1. Về hôn nhân:
Hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Lương Thanh S là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Chị H yêu cầu được ly hôn với anh S. Chị cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả nhau về vấn đề kinh tế, nuôi dạy con. Anh chị đã đưa ra hướng khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Anh, chị đã ly thân từ năm 2020 đến nay.
Khi thực hiện xác minh với chính quyền địa phương tại nơi anh S sống thì địa phương không nắm được mâu thuẫn của vợ chồng.
Thấy rằng mục đích hôn nhân là để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; trong quá trình sống chung vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh S là có thật, vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau về vấn đề kinh tế, nuôi dạy con. Anh chị đã đưa ra hướng khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Anh Chị đã ly thân hơn ba năm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương và tin tưởng lẫn nhau. Tòa án đã triệu tập anh S nhiều lần đến Tòa để hòa giải với chị H nhưng anh S không đến và cũng không có ý kiến trình bày, điều đó chứng minh anh S cũng không có thiện chí đoàn tụ. Xét mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh S là đúng theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.2. Về con chung: Trong thời gian chung sống có 02 con chung cháu Lương Thanh T, sinh ngày 22/03/2012 và cháu Lương Thị Quỳnh N, sinh ngày 29/11/2016 khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Thấy rằng, từ khi anh chị ly thân con chung sống với chị H có cuộc sống ổn định, hiện nay các con còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn, tại biên bản lấy ý kiến con cháu T và cháu N đều trình bày có nguyện vọng được sống với mẹ. Đồng thời, anh S cũng không có ý kiến đối với con chung. Do đó, để đảm bảo môi trường sống và phát triển bình thường của con chung, khi ly hôn giao hai con chung cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp.
Ghi nhận chị H không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ đều có quyền, nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.3 Về tài sản chung của vợ chồng: Chị H trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh S không có lời trình bày nên không xem xét, giải quyết.
2.4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh S không có lời trình bày nên không xem xét, giải quyết.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, chị H phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
Cụ thể tuyên:
1. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Lương Thanh S.
2. Về con chung: có 02 con chung cháu Lương Thanh T, sinh ngày 22/03/2012 và cháu Lương Thị Quỳnh N, sinh ngày 29/11/2016, khi ly hôn giao hai con chung cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Lương Thanh S cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; trên cở sở lợi ích của con, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có căn cứ theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H trình bày tự thỏa thuận,. không yêu cầu giải quyết và anh Lương Thanh S không có lời trình bày nên không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H trình bày không có và anh Lương Thành S1 không có lời trình bày nên không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí dân sự không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị H phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002282 ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre là đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án hoặc nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Mỏ Cày Nam; - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam; - TAND tỉnh Bến Tre; - Cơ quan ĐKKH; - Lưu (Hs,Vp). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ngọc Yến |