- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Anh phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A, tên gọi khác: T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HSST Ngày 22/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hoan
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Ngọc Quyết
Ông Nguyễn Bá Lưu
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Tạ Thanh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Hữu - Kiểm sátviên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/TLST- HS ngày 19 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo: Nguyễn Văn A, tên gọi khác: T, sinh ngày 04/4/2003. Nơi sinh: Vĩnh L, Quảng Tr; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố Phú Thị Đ, thị trấn Hồ X, huyện Vĩnh L, tỉnh Quảng Tr; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L; vợ con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 23/8/2018, Nguyễn Văn A bị Công an thị trấn Hồ Xá xử phạt hành chính cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
- Ngày 15/11/2018, Nguyễn Văn A bị Công an thị trấn Hồ Xá xử phạt hành chính cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.
- Ngày 25/12/2018, Nguyễn Văn A bị Công an thị trấn Hồ Xá ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dụng tại thị trấn 06 tháng về hành vi trộm cắp tài sản kể từ ngày 25/12/2018.
- Ngày 20/9/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, bản án số: 19/2019/HS-ST.
- Bản án số 35/2020/HSSTngày 25/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/10/2021.
(Thời điểm phạm tội của 02 bản án trên, Nguyễn Văn A là người đủ 16 tuổi và dưới 18 tuổi nên không xác định là tái phạm theo quy định tại Điều 107 Bộ luật Hình sự).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/3/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Linh, có mặt.
Người bị hại:
- Chị Nguyễn Thị H, sinh: 1990
Trú tại: Thôn Bình A, xã Vĩnh Ch, Vĩnh L, Quảng Tr, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh: 1973
Trú tại: Thôn Xóm M, xã Vĩnh L, Vĩnh L, Quảng Tr, vắng mặt.
* Người làm chứng
- Bà Nguyễn Thị Ph
Trú tại Thôn Bình A, xã Vĩnh Ch, Vĩnh L, Quảng Tr, vắng mặt.
- Bà Dương Thị H
Trú tại Thôn Bình A, xã Vĩnh Ch, Vĩnh L, Quảng Tr, vắng mặt.
- Anh Trần Đức Th
Trú tại Thôn Xóm M, xã Vĩnh L, Vĩnh L, Quảng Tr, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 03/3/2023, Nguyễn Văn A (sinh ngày 04/4/2003), sau khi chơi tại quán Net Danh ở khu phố Phú Thị, thị trấn Hồ Xá thì đến Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Linh nằm ngủ. Đến khoảng 04 giờ 00 ngày 04/3/2023, A tỉnh dậy và nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. A đi bộ vào khoa sản của Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Linh, thấy phòng số 6 (ở tầng 1) điện còn sáng nên đi ra phía sau hành lang rồi trèo qua lan can, đứng bên ngoài cửa sổ thấy 04 người phụ nữ đang nằm ngủ trên giường. A đẩy cửa phòng đi vào bên trong, phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11 của chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1990, trú tại thôn Bình A, xã Vĩnh Ch, huyện Vĩnh L) để sát cửa sổ nên lấy điện thoại bỏ vào túi quần. Tiếp tục đi đến giường bệnh sát cửa chính, thấy 01 điện thoại di động hiệu Realme 7i màu xanh và 01 túi xách màu đen của bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1973, trú tại Xóm M, xã Vĩnh L, huyện Vĩnh L) để dưới chân; A lấy điện thoại bỏ vào túi quần, rồi cầm túi xách đi ra khỏi phòng. Khi ra phía sau hành lang phòng bệnh, A dừng lại mở túi xách kiểm tra thấy bên trong có số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng, nên lấy tiền, vứt túi xách lại ở hành lang rồi rời khỏi Trung tâm y tế. Sau khi đi bộ đến sân vận động huyện Vĩnh Linh, A tháo thẻ sim 02 điện thoại và ốp lưng điện thoại Samsung vứt lại. Quá trình điều tra, A đã khai nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp 02 điện thoại để phục vụ điều tra, số tiền 1.500.000 đồng A đã tiêu xài cá nhân hết.
- Kết luận định giá tài sản số: 110/KLĐGTS ngày 07/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Linh kết luận: Trị giá còn lại của chiếc điện thoại SAMSUNG Galaxy A11 là 1.938.517 đồng và trị giá còn lại của chiếc điện thoại Realme 7i là 3.449.017 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của 02 điện thoại là 5.387.534 (Năm triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi tư) đồng.
Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKSVL ngày 19/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bội luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm: Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo đề nghị xử phạt từ 14 (mười bốn) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/3/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Bị cáo Đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận tội danh như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh đã truy tố là đúng và đồng tình với quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa và không có ý kiến gì thêm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Linh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Phân tích chứng cứ buộc tội và gỡ tội đối với bị cáo:
Nguyễn Văn A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ngày 04/3/2023, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị H 01 điện thoại Samsung Glaxy A11 trị giá 1.938.517 đồng, chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H1 01 điện thoại Realme 7i trị giá 3.449.017 đồng và số tiền 1.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 6.887.534 (Sáu triệu tám trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm ba mươi tư ) đồng.
Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Như vậy, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với bị cáo Nguyễn Văn A là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, làm cho quần chúng nhân dân không yên tâm trong quản lý tài sản. Mặt khác, nhân thân của bị cáo rất xấu, từ năm 2018 đến nay liên tiếp có hành vi trộm cắp tài sản bị các cơ quan chức năng xử lý. Tháng 9 năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh xử phạt 12 tháng tù cũng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra tù tháng 4/2020, đến tháng 7/2020 bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Ngày 25/12/2020, lại bị Toà án huyện Vĩnh Linh xét xử 09 tháng tù cũng về tội: “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 35/2020/HSST. Bị cáo nhận thức rõ được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng lại mong muốn để thoả mãn nhu cầu cá nhân bằng chính sức lao động của người khác nên đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt thoả đáng tương xứng với hành vi đã thực hiện để giáo dục trực tiếp đối với bị cáo; đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt có trị giá thấp chỉ 6.887.534 đồng, đã tác động gia đình bồi thường đủ cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tình chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 BLHS, nên cần chấp nhận ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự và đưa ra mức hình phạt đối với bị cáo trong khoảng từ 14 (mười bốn) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS thì thấy rằng, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Vấn đề khác liên quan:
- Về Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt. Nay không có ý kiến gì, không xét.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan đièu tra đã tạm giữ 02 điện thoại và đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật, nên không xét.
Về án phí, lệ phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A, tên gọi khác: T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn A (T) 15 (mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 07/3/2023.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Văn A (T) phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/6/2023); người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát VL; - Bị cáo; người bị hại; - Cơ quan ĐT Công an VL; - Chi cục THADS VL; - Viện kiểm sát tỉnh Quảng Trị; - Tòa án tỉnh; Sở Tư pháp; - Lưu h/s, lưu án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Hoan |