vanban.org

Bản án 19/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Quang Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Quang Đ 05 ( năm ) năm tù, Thời hạn phạt tù tính từ ngày 01-3-2023. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu gì nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Quang Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN H
TỈNH TRÀ V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2023/HS-ST
Ngày 12-7-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN H, TỈNH TRÀ V

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Rô;

Ông Phạm Phi Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên H, tỉnh Trà V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên H, tỉnh Trà V tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Sĩ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên H, tỉnh Trà V xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Ngô Quang Đ, sinh năm 1962 tại tỉnh Trà V; Nơi cư trú: ấp Hòa L, xã Lương H, huyện Châu T, tỉnh Trà V; nghề nghiệp làm thuê; trình độ học vấn 5/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Ngô V, sinh năm 1936 và bà Hà Thị H, sinh năm 1937; Vợ Lê Thị G, sinh năm 1958 đã ly hôn, con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1988; Anh, chị, em ruột: có 08 người kể cả bị cáo, lớn nhất sinh năm 1960, nhỏ nhất sinh năm 1982.

Tiền án: 07 lần:

- Lần 1: Ngày 15/4/1990, bị Công an tỉnh Cửu Long bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Lần 2: Ngày 15/4/1993, Tòa án nhân dân thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà V xử tù có thời hạn 03 năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”.

- Lần 3: Ngày 05/4/1996, Tòa án nhân dân tỉnh Trà V xử tù có thời hạn 08 năm về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

- Lần 4: Ngày 18/02/2003, Tòa án nhân dân thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà V xử tù có thời hạn 07 năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Lần 5: Ngày 27/02/2009, Tòa án nhân dân thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà V xử tù có thời hạn 04 năm về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Lần 6: Ngày 18/12/2013, Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà V xử phạt tù có thời hạn 04 năm về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Lần 7: Ngày 31/5/2018 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xử tù có thời hạn 05 năm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: không.

Ngày 01/3/2023 bị cáo bị bắt tạm giữ cho ngày 07/3/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt tại điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Duyên H;

- Bị hại: Ông Trần Phú V, sinh năm: 1974 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: khóm 1, phường 1, thị xã Duyên H, tỉnh Trà V.

- Người hỗ trợ phiên toà trực tuyến tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Duyên H, tỉnh Trà V.

- Người hỗ trợ phiên toà trực tuyến tại điểm cầu thành phần: Đại uý Nguyễn Trường Giang, Cán bộ Đội Tổng hợp Công an thị xã Duyên H, tỉnh Trà V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 28/02/2023, bị cáo Ngô Quang Đ từ huyện Châu Thành, tỉnh Trà V bắt xe khách đi đến thị xã Duyên H để xin việc làm nhưng không ai thuê. Đến khoảng 19giờ cùng ngày, sau khi bị cáo mua rượu uống ở Quãng trường 19/5 thị xã Duyên H thì bị cáo đi tìm tài sản lấy trộm. Bị cáo đi bộ một mình đến chợ thị xã Duyên H thì nhìn thấy 01 xe mô tô biển số 84F1-072.83 của ông Trần Phú V đang đậu bên hong nhà thuộc khóm 1, phường 1, thị xã Duyên H. Nhìn không thấy ai trông coi, bị cáo đến dẫn xe ra lộ đi về hướng khóm Long T, phường 1, thị xã Duyên H thì bị lực lượng Công an phường 1, thị xã Duyên H phát hiện và mời làm việc. Tại cơ quan điều tra, bị cáo Ngô Quang Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐG ngày 06/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy banh nhân dân thị xã Duyên H kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Jupiter MX, màu đỏ đen, biển số 84F1-072.83, xe đã qua sử dụng, bị trầy xước nhiều chổ, có giá 6.500.000 đồng.

Vật chứng: 01 (một) xe mô tô hiệu Jupiter MX, màu đỏ đen, biển số 84F1-072.83, xe đã qua sử dụng. Ngày 09/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Trà V đã trả lại tài sản cho bị hại xong.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS-HS ngày 19/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên H, tỉnh Trà V đã truy tố bị cáo Ngô Quang Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 03/7/2023 bị hại Trần Phú V trình bày: Bị hại đã nhận lại 01 (một) xe mô tô hiệu Jupiter MX, màu đỏ đen, biển số 84F1-072.83, xe đã qua sử dụng, nên về trách nhiệm dân sự không yêu cầu gì thêm, về trách nhiệm hình sự bị hại yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Quang Đ khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên H, tỉnh Trà V đã truy tố.

kiến của Kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Quang Đ từ 05 (năm) tháng đến 06 ( sáu ) năm tù; Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Trà V đã trả lại tài sản cho bị hại xong nên không đề nghị; Về trách nhiệm dân sự: Đối với bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

Bị cáo Ngô Quang Đ nói lời sau cùng: Bị cáo trộm cắp tài sản của người khác là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi của bị cáo: Vào khoảng 19 giờ, ngày 28/02/2023, sau khi bị cáo mua rượu uống ở Quãng trường 19/5 thị xã Duyên H thì bị cáo đi tìm tài sản lấy trộm. Bị cáo đi bộ một mình đến chợ thị xã Duyên H thì nhìn thấy 01 xe mô tô biển số 84F1-072.83 của ông Trần Phú V đang đậu bên hong nhà thuộc khóm 1, phường 1, thị xã Duyên H, bị cáo thấy không ai trông coi, nên bị cáo đã lấy trộm chiếc xe, tài sản bị cáo trộm định giá được 6.500.000 đồng và bị cáo chưa được xóa án tích theo bản án số 31/2018/HSST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà V nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất vụ án: hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của bị hại và làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ngoài ra bị cáo còn có 07 tiền án về tội trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tiền án gần đây nhất là vào ngày 31/5/2018 bị cáo Ngô Quang Đ bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà V xử phạt 05 (năm ) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Khi chấp hành án xong hình phạt bị cáo không sửa chữa lỗi lầm để hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với mức độ hành vi của bị cáo mới có tính giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được áp dụng cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Ngày 09/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Trà V đã trả lại tài sản cho bị hại xong nên không xem xét.

Về tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên H đã truy tố bị cáo Ngô Quang Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với vụ án là có căn cứ, hình phạt và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Ngô Quang Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ngô Quang Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Quang Đ 05 ( năm ) năm tù, Thời hạn phạt tù tính từ ngày 01-3-2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Quang Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- TAND tỉnh Trà V;

- VKSND tỉnh Trà V;

- STP tỉnh Trà V;

- VKSND thị xã Trà Vinh;

- Công an thị xã Duyên H;

- CCTHADS thị xã Duyên H;

- Các bị cáo, người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Thị Thùy Linh

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ