- Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Công H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HS-ST. Ngày:14/4/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mận.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Đặng Trường Bảo
2. Bà Phạm Thị Ngọc Hữu
Thư ký phiên tòa: Bà Biện Thị Uyển Nhi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/TLST-HS, ngày 20 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Văn Công H (tên gọi khác: B), sinh năm 1991 tại: Bình Thuận; Nơi đăng ký HKTT: Xóm F, Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: tổ G, ấp F, xã V, huyện B, Thành Phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 2/12 ; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Con ông: Văn Công T; Con bà: Võ Thị Đ; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.
Qúa trình nhân thân:
Ngày 29/01/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” (tại Bản án số 10/2008/HSST); chấp hành xong bản án ngày 12/9/2008.
Ngày 13/3/2009, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù (tại bản án số 77/2009/HSST) về tội “Cướp giật tài sản”;
Ngày 13/8/2010, bị Tòa án nhân quận B, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”(tại bản án số 230/2010). Tổng hợp hình phạt mức án 03 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2009/HSST ngày 13/3/2009 của Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm 03 tháng tù, chấp hành xong bản án ngày 19/12/2012, đã được xóa án tích.
Bị cáo Văn Công H đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 29/12/2022, có mặt tại tòa.
Người bị hại:
Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan : Võ Thị Đ, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn C, xã B, T, Bình Thuận. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 08/8/2022, Văn Công H điều khiển xe mô tô hiệu YAMAHA JUPITER, màu đỏ, biển số 59M1-72468 của bà Võ Thị Đ đi từ nhà thuộc thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận đến tiệm Spa của chị D thuộc thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận để rủ chị D đi uống cà phê. Khi H đến thì chị D mới đi tập gym về chưa tắm nên chị D nói H ngồi chờ tại phòng làm việc của chị D. Trong lúc H ngồi chờ chị D thì phát hiện thấy trong túi xách của chị D (túi xách không kéo khóa) đang để trên ghế sô pha gần chỗ H ngồi có để tiền nên H đã nảy sinh ý định lấy trộm tiền của chị D. H quan sát xung quanh không thấy người ở gần đó và chị D đang trong nhà tắm nên đã lén lút lấy trộm một xấp tiền trong túi xách. Sau khi lấy được tiền H về nhà ở thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Tại đây, H đã lấy xấp tiền ra đếm được 5.000.000đồng gồm 10 tờ polyme mệnh giá 500.000đồng. Ngày 9/8/2022 H bắt xe vào thành phố Hồ Chí Minh tiêu xài hết số tiền đã lấy trộm.
Khi chị D phát hiện bị mất tiền đã kiểm tra hình ảnh camera thì biết H chính là đối tượng đã lấy trộm tiền của mình nên đã trực tiếp liên hệ với H để yêu cầu trả lại tiền nhưng H không thừa nhận nên đã trình báo và cung cấp chứng cứ đến Công an xã M. Tại bản cáo trạng số 10/CT – VKSNDBT– P1 ngày 16 tháng 3 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Văn Công H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh khẳng định bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Văn Công H là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Văn Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xem xét áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Văn Công H với mức án từ 06 (sáu) đến 09(chín) tháng tù.
Bị cáo Văn Công H không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, trên cơ sở lời khai của bị cáo H, lời khai người bị hại và người làm chứng thể hiện trong hồ sơ có đủ căn cứ để xác định:
Vào khoảng 19 giờ ngày 08/8/2022 tại tiệm S thuộc thôn C, xã M, huyện T Văn Công H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Kim Duyên s tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng). Do đó có đủ căn cứ để xác định Văn Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sử đổi, bổ sung năm 2017.
Như vậy, Văn Công H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thế nhưng bị cáo đã thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” của chị Nguyễn Thị Kim D. Hành vi đó của Văn Công H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, gây tâm lý bất bình, hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải áp dụng đối với bị cáo Văn Công H một mức hình phạt thật nghiêm minh phù hợp với quy định của pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân:
Bị cáo có quá trình nhân thân không tốt.
Ngày 29/01/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” (tại Bản án số 10/2008/HSST); chấp hành xong bản án ngày 12/9/2008.
Ngày 13/3/2009, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù (tại bản án số 77/2009/HSST) về tội “Cướp giật tài sản”;
Ngày 13/8/2010, bị Tòa án nhân quận B, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”(tại bản án số 230/2010.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo H đã thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải, thông qua mẹ ruột là bà Võ Thị Đ trả lại số tiền trộm cắp cho người bị hại; người bị hại cũng đã có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó khi quyết định hình phạt cần lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tương ứng với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp với tính khoan hồng của pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Trong quá trình tố tụng, người bị hại Nguyễn Thị Kim D đã nhận lại tài sản bị trộm cắp không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Do đó Hội đồng xét xử không xét đến trách nhiệm dân sự trong vụ án này.
. Về án phí: Cần buộc bị cáo Văn Công H phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước theo quy định là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh:
Căn cứ vào Điều 173 BLHS năm 2015(đã được sửa đổi bổ sung năm 2017):
Tuyên bố: Bị cáo Văn Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Văn Công H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (29/12/2022).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Văn Công H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo. Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/4/2023); người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Tánh Linh; - CQ.CSĐT Công an huyện Tánh Linh; - Cơ quan THAHS - Công an huyện Tánh Linh; - Nhà tạm giữ - Công an huyện Tánh Linh; - UBND xã Măng Tố; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Chi cục THADS huyện Tánh Linh (khi án có HLPL); - Lưu án văn, HSVA; - Lưu Văn phòng TAND huyện Tánh Linh. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Mận |