vanban.org

Bản án 19/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 28/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế K 02 (hai) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/10/2022.

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thế K phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cao Khai - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế K 02 (hai) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/10/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HS-ST
Ngày 28 - 02- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lãnh Văn Việt;

2. Ông Vũ Ngọc Côn.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ca – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công ki vụ án hình sự thụ lý số: 10/2023/HSST ngày 13/01/2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/HSST- QĐ ngày 13/02/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thế K, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu và nơi ở: Tổ dân phố C, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Mạnh K (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; Vợ: Nguyễn Thị T (đã ly hôn); Con: có 01 con, sinh năm 2011; Tiền án: không; Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hình chính số 100A/QĐ-XPHC ngày 07/10/2022 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn C đối với Nguyễn Thế K số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 02/9/2022. K chưa chấp hành số tiền trên; Nhân thân: Tại Bản án số 260/2018/HSST ngày 30/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Nguyễn Thế K 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 29/6/2018, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 23/01/2019 K chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 29/9/2019 K chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội mới bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2022 “có mặt”.

Bị hại: Diệp Thị Chín, sinh năm 1993 “có mặt”.

Nguyễn Văn D, sinh năm 1987 “vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn K 2A, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nông Thị T, sinh năm 1998 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Giáp Phương X, sinh năm 1989 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Giáp Văn T, sinh năm 1992 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn K 2A, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 30/9/2022 đến ngày 14/10/2022 Nguyễn Thế K đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn xã G, huyện L rồi mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, cụ thể:

Lần!thứ!nhất: Khoảng 17 giờ ngày 30/9/2022 Nguyễn Thế K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM màu đỏ - đen - xám biển kiểm soát 98B3-880.97 từ nhà đi theo hướng xã G, huyện L, mục đích để tìm tài sản sơ hở trộm cắp. Khi đi đến đường tỉnh lộ 290 thuộc thôn K 2A, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang phát hiện thấy cửa nhà phía sau của gia đình chị Diệp Thị Chín, sinh năm 1993, trú tại thôn K 2A, xã G, huyện L cửa phía sau mở. K dựng xe mô tô tại lề đường bê tông rồi đi vào phía sau nhà chị Cquan sát thì thấy trên mặt bàn bếp sát với nhà tắm có 01(một) đồng hồ nhãn hiệu Casio, loại G-shock GPR- B1000-1 màu đen; 01 (một) dây vòng đeo cổ bằng kim loại màu trắng; 01 (một)vòng đeo tay (lắc tay) bằng kim loại màu trắng; 01 (một) nhẫn đeo tay bằng kim loại màu trắng có gắn mặt đá màu vàng. K đã dùng tay lấy toàn bộ số tài sản trên đút vào túi quần đang mặc bên trái rồi đi ra chỗ để xe mô tô. Sau đó K điều khiển xe mô tô đi đến cửa hàng vàng bạc Tuấn Lượng thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang do chị Nông Thị T, sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố T thị trấn C, huyện L là chủ cửa hàng để bán số tài sản trộm cắp. Khi đến cửa hàng, K gặp chị T và đặt vấn đề muốn bán cho chị T số kim loại gồm: 01 (một) vòng đeo cổ bằng kim loại màu trắng; 01 (một) vòng đeo tay (lắc tay) bằng kim loại màu trắng; 01(một) nhẫn đeo tay bằng kim loại màu trắng có gắn mặt đá màu vàng. Chị T kiểm tra số kim loại trên xác định đó là kim loại Bạc, cân lên được tổng số 120 chỉ bạc, chị T báo giá 47.000đồng/chỉ. Riêng chiếc mặt đá màu vàng gắn ở chiếc nhẫn bạc, do không có giá trị nên chị T tháo ra không mua. K nhất trí, sau đó chị T trả cho K tổng số tiền là 5.640.000đồng (năm triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) đồng thời trả lại cho K chiếc mặt đá màu vàng. Sau khi mua được số trang sức bằng bạc nêu trên của K, chị T đã cho toàn bộ số vào chung với số kim loại bạc khác của cửa hàng để chế tác thành trang sức. Đối với số tiền bán trang sức nêu trên K đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết, còn chiếc đồng hồ K đem về nhà cất giấu trong ngăn tủ phòng ngủ. Ngày 14/10/2022 chị Diệp Thị Cđã làm đơn trình báo Công an xã G. Ngày 19/10/2022 Công an xã G đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 14/10/2022 Nguyễn Thế K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM màu đỏ đen xám biển kiểm soát 98B3-880.97 theo hướng thị trấn C đi xã G, mục đích để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến địa phận thôn K 2A, xã G, huyện L, phát hiện trước cửa quán cắt tóc của anh Nguyễn Văn D có 01 máy bơm nước cao áp màu vàng, nhãn hiệu CRIKA CR2000, quan sát thấy xunh quanh không có người trông coi. K đỗ xe mô tô ở rìa đường, rồi lén lút đi vào chỗ để chiếc máy bơm nước để phía bên trái lối đi ra vào nhà trước cửa dùng hai tay lấy chiếc máy bơm để lên gác ba ga phía trước xe mô tô. Sau đó K điều khiển xe mô tô chở chiếc máy bơm nước đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Giáp Phương X bán cho chị X với số tiền 500.000 đồng. Số tiền bán máy bơm K đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 20/10/2022 anh Nguyễn Văn D đã làm đơn trình báo Công an huyện L đồng thời giao nộp 01 video được lưu trong đĩa CD thu giữ tại Camera của gia đình ghi lại hình ảnh đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp chiếc máy bơm nước của gia đình anh.

Hồi 09 giờ ngày 20/10/2022 Nguyễn Thế K đã đến Công an huyện L đầu thú ki nhận hành vi trộm cắp tài sản trong các ngày 30/9/2022 và 14/10/2022 tại địa bàn xã G.

Cùng ngày 20/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thế K tại tổ dân phố C, thị trấn C, huyện L. Kết quả: Thu giữ 01(một) đồng hồ màu đen nhãn hiệu Casio, G-SHOCK tại ngăn tủ trong phòng ngủ của Nguyễn Thế K; chị Giáp Phương X đã giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L 01 máy bơm nước cao áp màu cam, nhãn hiệu CRIKA CR2000.

Ngày 20/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Nguyễn Thế K xác định hiện trường vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại gia đình chị Diệp Thị Chín, gia đình anh Nguyễn Văn D ở tại thôn K 2A, xã G và hiện trường nơi K đã bán chiếc máy bơm nước cho chị Giáp Phương X ở thôn L, xã S, huyện L.

Ngày 24/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với số tài sản gồm: Tại bản kết luận giám định số 157/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2022 và bản kết luận số 11/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện L kết luận: 01 dây chuyền đeo cổ bằng kim loại bạc, dạng xà tích (các mắt hình tròn nối với nhau); 01 dây vòng đeo tay (lắc tay) bằng kim loại bạc dạng xà tích (các mắt hình tròn nối với nhau); 01 chiếc nhẫn đeo tay bằng kim loại bạc, có gắn đá màu vàng có tổng t lượng 120 chỉ bạc; 01(một) đồng hồ nhãn hiệu Casio, loại G-shock GPR-B1000-1 màu đen, tổng giá trị tài sản: 22.000.000 đồng; 01 máy bơm nước rửa xe cao áp nhãn hiệu Crika, Pressure Washer CR2000, trị giá 600.000 đồng.

Ngày 29/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Nguyễn Thế K xem hình ảnh video do anh Nguyễn Văn D giao nộp. Kết quả: K xác định người đàn ông đội mũ bảo hiểm màu đen, mặc áo khoác màu vàng, mặc quần dài tối màu, điều khiển xe mô tô thực hiện hành vi trộm cắp chiếc máy bơm nước tại gia đình anh D chính là K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo K phạm tội “ Trộm cắp tài sản”; Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo K từ 24 đén 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 31/8/2022. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo. Ngoài ra còn đề xuất về án phí, quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thế K đã ki nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời ki nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời ki tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ ngày 30/9/2022 tại gia đình chị Diệp Thị Cở thôn K 2A, xã G, huyện L, Nguyễn Thế K đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 dây chuyền đeo cổ bằng kim loại bạc, dạng xà tích (các mắt hình tròn nối với nhau); 01 dây vòng đeo tay (lắc tay) bằng kim loại bạc dạng xà tích (các mắt hình tròn nối với nhau); 01 chiếc nhẫn đeo tay bằng kim loại bạc, có gắn đá màu vàng có tổng t lượng 120 chỉ bạc; 01(một) đồng hồ nhãn hiệu Casio, loại G-shock GPR-B1000-1 màu đen, tổng giá trị tài sản: 22.000.000 đồng; khoảng 18 giờ ngày 14/10/2022 K tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Văn D ở thôn K 2A, xã G, huyện L 01 máy bơm nước rửa xe cao áp nhãn hiệu Crika, Pressure Washer CR2000, trị giá 600.000 đồng. Tổng giá trị K trộm cắp 02 lần là 22.600.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

Đánh giá tính chất mức độ nghiêm t của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần trộm cắp tài sản, lần thứ nhất trị giá tài sản tuy dưới 02 triệu đồng nhưng bị cáo đang có 01 tiền sự; lần thứ hai trị giá tài sản trộm cắp trên 02 triệu đồng. Vì vậy bị cáo Nguyễn Thế K thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình và đã bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả cho bị hại; quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn ki báo, sau khi phạm tội đã đến Công an huyện L đầu thú và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Bị cáo nhân thân từng phạm tội, có 01 tiền sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên bị cáo có tình tiết giảm nhẹ nên cần giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta. Xét mức hình phạt khởi điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Về hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền: Do bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết.

Các vấn đề khác:

Đối với chị Nông Thị T là người đã mua số kim loại bạc của K vào ngày 30/9/2022; chị Giáp Phương X là người mua chiếc máy bơm nước cao áp của K vào ngày 14/10/2022, quá trình điều tra xác định khi mua số tài sản trên của K thì chị T và chị X đều không biết đó là tài sản do K phạm tội mà có, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị T, chị X là có căn cứ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế K 02 (hai) năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/10/2022.

2. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thế K phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công ki sơ thẩm.

Cỡ chữ