- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Kim Oanh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Kim O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HS-ST Ngày 17 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Kim Hạnh và ông Đỗ Ngọc Thịnh.
-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Hà Kim O, sinh ngày 21/7/1979; nơi sinh và cư trú: Thôn B, xã C, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Kim H, sinh năm 1955 và bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1954; vợ: Thân Thị H2, sinh năm 1986; con: Có 03 con: con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh ngày 01/01/2023; tiền sự: Không;
Tiền án: + Tại bản án số 47/2018/HSST ngày 14/9/2018, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 25/4/2019 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của bản án.
+ Tại bản án số 09/2021/HSST ngày 24/02/2021 Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 03/4/2022 chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).
Nhân thân: + Tại quyết định số 332/QĐ-CTUBND ngày 17/3/2010 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Lập Thạch đưa vào Trung tâm giáo dục-Lao động xã hội tỉnh Vĩnh Phúc để cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, ngày 01/5/2012 chấp hành xong.
+ Tại quyết định số 52/QĐ-XPHC ngày 05/12/2017 Công an huyện Sông Lô xử phạt vi phạm hành chính mức phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, ngày 06/12/2017 đã nộp phạt xong.
Bị cáo bị bắt, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc từ ngày 12/12/2022 đến nay (có mặt).
-Người bị hại: Bà Khổng Thị H3, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc;
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc;
+ Chị Thân Thị T, sinh năm 1986 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân S (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn H4, xã N, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 11/12/2022, Hà Kim O trú tại thôn B, xã C, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc từ nhà mình đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 88D1-341.56 xem ai có tài sản sơ hở để trộm cắp, khoảng 10 giờ cùng ngày khi O đi đến đường nội đồng thuộc thôn H4, xã N, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc thì phát hiện thấy có 01 xe lôi bằng sắt của bà Khổng Thị H3 dựng ở ven đường không có người trông giữ, O nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe lôi trên. O dừng xe dùng hai tay kéo, đặt tay nắm ngang của càng xe lôi lên yên xe mô tô của O, sau đó dùng tay trái giữ càng xe lôi, tay phải lái xe kéo xe lôi đến bán cho ông Nguyễn văn Đ ở thôn V, xã L, huyện Lập Thạch được 500.000 đồng, số tiền bán xe O tiêu sài cá nhân hết. Đến 14 giờ 30 phút ngày 12/12/2022 O đến Công an xã N đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 xe lôi do ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 88D1-341.56; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Thân Thị T bản pho to.
Tại kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐG ngày 13/12/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lập Thạch kết luận: “01 xe lôi bằng sắt, có càng xe kích thước 65 cm x 110 cm, phần thùng xe có kích thước 65 cm x 115 cm, phía dưới có 02 bánh xe, trị giá 600.000 đồng”.
Quá trình điều tra xác định ông Nguyễn Văn Đ khi mua xe lôi của O ông Đ không biết chiếc xe trên do O trộm cắp mà có do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả cho bà Khổng Thị H3 01 xe lôi bằng sắt là tài sản của bà H3. Nhận lại tài sản bà H3 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện không yêu cầu bị cáo trả lại tiền mua xe lôi.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Hà Kim O về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo O từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước ½ giá trị xe mô tô của O, xác nhận biên bản trả tài sản cho bà H3 do cơ quan điều tra lập là hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Chị Thân Thị T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả cho chị chiếc xe mô tô là tài sản duy nhất của chị làm phương tiện đi làm hàng ngày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11 giờ ngày 11/12/2022, tại khu vực đường nội đồng thuộc thôn H4, xã N, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Hà Kim O trộm cắp của bà Khổng Thị H3 01 xe lôi bằng sắt theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trị giá 600.000 đồng”.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, phù hợp với vật chứng của vụ án, phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hà Kim O trộm cắp tài sản là 01 xe lôi bằng sắt của bà Khổng Thị H3. Đối chiếu với Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo Hà Kim O phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
… b, đã bị kết án về tội này…, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
Xét tính chất vụ án ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo Hà Kim O, đối chiếu với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng năm 2010 bị cáo đã phải đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng; năm 2017 bị Công an huyện Sông Lô xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, năm 2021 Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 03/4/2022 bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù đến ngày phạm tội chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện nhân thân của bị cáo là rất xấu. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo còn nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp của bà H3 cơ quan điều tra đã thu và trả cho bà Khổng Thị H3 là chủ sở hữu 01 xe lôi bằng sắt. Nhận lại tài sản bà H3 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Nguyễn Văn Đ là người mua xe lôi của O, khi mua xe ông Đ không biết là tài sản do O phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng pháp luật. Đối với số tiền 500.000 đồng ông Đ mua xe lôi của O, ông Đ tự nguyện không yêu cầu bị cáo trả lại tiền mua xe lôi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 88D1-341.56 mang tên chị Thân Thị T (vợ O) là phương tiện O sử dụng vào việc phạm tội lẽ ra cần tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xong xét thấy mặc dù chiếc xe là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng nhưng thực tế trong quá trình chung sống O thường xuyên phải đi cai nghiện và đi chấp hành án, khi về thì không chăm chỉ làm ăn, chị Thân Thị T là người mua trả góp chiếc xe trên O không có đóng góp gì, mặt khác chiếc xe là phương tiện duy nhất của gia đình làm phương tiện chị T đi làm hàng ngày và đưa đón con đi học nên không nhất thiết tịch thu ½ giá trị chiếc xe như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mà trả lại cho chị Thân thị T.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Kim O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Hà Kim O 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 12/12/2022.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho chị Thân Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 88D1-341.56 (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 02 năm 2022 giữa Công an huyện Lập Thạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Kim O phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch; - Công an huyện Lập Thạch; - UBND xã B; - Bị cáo; Người bị hại, người có QLNVLQ; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sinh |