- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luậ…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HS-ST Ngày: 03-03-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Xô và bà Đỗ Thị Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2022/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn C, sinh năm 1992; nơi sinh: khu dân cư XXX, phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Số nhà ###, đường Hoàng Thạch, khu dân cư Bích Nhôi 2, phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng K và bà Phạm Thị L; có vợ là Bùi Thị P và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị P, sinh năm 1992; địa chỉ: Số nhà AAA, đường Hoàng Thạch, khu dân cư Bích Nhôi 2, phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên toà).
- Người tham gia tố tụng khác: Chị Nguyễn Thị H (người làm chứng vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15-8-2021 Nguyễn Văn C đang ở quán photo, chụp ảnh, in màu của C ở Khu dân cư Bích Nhôi 2, phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương thì có 01 người phụ nữ đến gặp C hỏi mua 01 phiếu trả lời kết quả xét nghiệm SARS-Cov2 PCR, C đồng ý. C vào phần mềm photoshop trên máy vi tính lấy mẫu phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR do C tự thu thập và lưu vào máy vi tính. C hỏi họ tên, năm sinh, địa chỉ, số căn cước công dân của người phụ nữ thì người này đọc tên là Nguyễn Thị H, sinh năm 1997, nơi ĐKHKTT tại phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, số căn cước công dân 03019700####. C điền các thông tin vào phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR, sau đó in màu ra 01 phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR mang tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1997, trú tại phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, số căn cước công dân 03019700####, ở dưới góc phải có hình dấu đỏ của Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương, chữ ký của Q. Giám Đốc Ngô Văn Bắc, ở trên góc trái có hình dấu đỏ của công ty cổ phần y tế Bảo An Phát, C đưa cho Hiền phiếu trả lời kết quả xét nghiệm rồi thu của Hiền 200.000 đồng tiền công.
Đến khoảng 11 giờ ngày 16-8-2021 H mang phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR thuê C làm ngày 15-8-2021 đến quán photo gặp C yêu cầu sửa lại mục giới tính nam thành nữ trong giấy xét nghiệm do chưa sửa mục này. C vào phần nội dung chữ trong phiếu xét nghiệm còn lưu trong phần mềm photoshop trên máy tính, sửa mục giới tính trên phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR từ nam thành nữ, sau đó sử dụng tờ giấy trắng A4 đã in sẵn 02 hình dấu đỏ và chữ ký Q. Giám Đốc Ngô Văn Bắc in ra 01 phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR còn phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR bị sai phần giới tính C thu lại đem đi đốt. Khi C đưa phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR làm lại mới cho H thì bị tổ công tác thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Hải Dương phát hiện lập biên bản thu giữ: 01 phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2; 01 màn hình máy vi tính màu đen, nhãn hiệu Samsung, loại E1920; 01 bàn phím màu đen, nhãn hiệu Fuhlen; 01 chuột màu đen nhãn hiệu Genius; 05 đoạn dây điện kết nối; 01 case máy tính nhãn hiệu U-TEK, vỏ màu đen (bên trong case có lắp 02 ổ cứng); 01 máy Scan, nhãn hiệu Canon, loại Lide 300, vỏ màu đen; 01 máy in màu nhãn hiệu EPSON L1800; 01 điện thoại nhãn hiệu iphone X, màu trắng xám, imei số: 353041097212457, bên trong lắp sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh, số imei1: 353442112002719, imei2: 353442112002727, bên trong lắp sim; 01 ổ cứng máy tính, nhãn hiệu Toshiba, dung lượng 500GB, vỏ màu đen.
Quá trình điều tra C tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng thu từ Hiền để làm 01 phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2.
Tại Bản kết luận giám định số 67/KLGĐ ngày 31-8-2021 của Phòng KTHS công an tỉnh Hải Dương kết luận: Các hình dấu tròn trên phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR thu giữ của Nguyễn Văn C ngày 16-8-2021 không phải do mẫu dấu thật đóng ra. Chữ ký đứng tên Q. Giám đốc Ngô Văn Bắc trên phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 PCR thu giữ của Nguyễn Văn C ngày 16-8-2021 với chữ ký của Q. Giám đốc Ngô Văn Bắc trên tài liệu mẫu so sánh thật không phải do cùng một người ký ra.
Tại Bản kết luận giám định số 7991/C09-P6 ngày 15-12-2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận: Tìm thấy dữ liệu điện tử có nội dung liên quan đến nội dung vụ việc trong thời gian từ 01-5-2021 đến ngày 16-8-2021 trong case máy tính (ký hiệu A1), ổ cứng rời (ký hiệu A2), điện thoại Vsmart (ký hiệu A3) thu giữ của bị can Nguyễn Văn C. Chi tiết có trong các thư mục ký hiệu A1, A2, A3 được lưu trữ trong đĩa DVD-R kèm theo. Trong điện thoại Iphone X thu giữ của C không tìm được dữ liệu. Trong máy scan, máy in thu giữ của C: Không tìm thấy dữ liệu điện tử. Các tệp có định dạng PSD tìm thấy trong case máy tính, ổ cứng rời thu giữ của C được chỉnh sửa bằng ứng dụng photoshop trong case máy tính của C. Không xác định được các dữ liệu điện tử được tìm thấy trong case máy tính, ổ cứng rời, điện thoại của C có được Scan, in màu ra từ máy Scan, máy in màu thu giữ của C hoặc Scan, in màu ra từ phương tiện điện tử nào khác không.
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 192/KL-KTHS ngày 15-9-2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:
Không xác định được các dữ liệu điện tử tìm thấy trong mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 từ đâu chuyển đến, thời gian chuyển đến, đã chuyển đi đâu và thời gian chuyển đi.
Các tệp tin định dạng PSD tìm thấy trong mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 được chỉnh sửa bằng ứng dụng photoshop phần nội dung chữ trong case máy tính thu giữ của C (A1). Các dữ liệu điện tử tìm thấy trong các mẫu cần giám định A1, A2, A3 không phải định dạng "PSD" không bị cắt ghép, chỉnh sửa.
Không tìm thấy dữ liệu điện tử trong phần mềm zalo giữa mẫu cần giám định A4 với A3 (A3 là ký hiệu điện thoại Vsmart thu giữ của C). Không xác định được các dữ liệu điện tử tìm thấy trong mẫu cần giám định A4 có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không, không xác định được các dữ liệu này có được scan và in màu từ máy in thu giữ của C hoặc scan, in màu ra từ phương tiện điện tử nào khác hay không. Không xác định được các dữ liệu điện tử tìm thấy từ đâu chuyển đến, thời gian chuyển đến, đã chuyển đi đâu và thời gian chuyển đi.
Tại cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 30-11-2022 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã truy tố Nguyễn Văn C về tội " Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như VKSND thị xã Kinh Môn đã truy tố. Do nhận thức không đầy đủ và hám lợi nhuận bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Nay bị cáo đã ăn năn hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu iphone X, màu trắng xám bên trong lắp sim bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên đề nghị được xin lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Toàn bộ vật chứng mà cơ quan điều tra thu giữ gồm 01 màn hình máy vi tính, 01 bàn phím, 01 chuột màu đen, 05 đoạn dây điện kết nối, 01 case máy tính nhãn hiệu U-TEK, 01 máy Scan nhãn hiệu Canon, 01 máy in màu nhãn hiệu EPSON L1800, 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh bên trong lắp sim, điện thoại nhãn hiệu iphone X, màu trắng xám bên trong lắp sim, 01 ổ cứng máy tính, nhãn hiệu Toshiba là tài sản chung của bị cáo Nguyễn Văn C và chị. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu iphone X, màu trắng xám bên trong lắp sim bị cáo Nguyễn Văn C không dùng vào việc phạm tội chị đề nghị được xin lại. Đối với số tài sản còn lại bị cáo C dùng để thực hiện hành vi phạm tội chị không biết. Theo quy định của pháp luật phải tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước số tài sản này, chị đề nghị được xin lại ½ giá trị số tài sản trên. Đối với chiếc sim điện thoại lắp trongđiện thoại nhãn hiệu Vsmart không còn giá trị sử dụng nên chị đồng ý tịch thu tiêu huỷ.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a,b,c khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 106; kho¶n 2 Điều 135, kho¶n 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề xuất về việc xử lý vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên công an thị xã Kinh Môn; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16-8-2021, tại quán photo, in màu của Nguyễn Văn C ở Khu dân cư Bích Nhôi 2, phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; Nguyễn Văn C có hành vi sử dụng máy vi tính, máy in màu làm giả 01 phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-CoV2 PCR của Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương cho chị Nguyễn Thị Hiền lấy số tiền 200.000 đồng. Khi C đưa phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2 giả cho chị Hiền thì bị tổ công tác thuộc cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Hải Dương kiểm tra, phát hiện lập biên bản, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến sự hoạt động bình thường và uy tín của các cơ quan nhà nước, tổ chức. Hành vi đó còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình gây hậu quả nghiêm trọng trong thời điểm đại dịch nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi. Do vậy hµnh vi cña bÞ c¸o ®ñ yÕu tè cÊu thµnh téi "Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. ViÖc truy tè cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thị xã Kinh Môn, tØnh H¶i D ¬ng ®èi víi bÞ c¸o lµ cã c¨n cø, ®óng ng êi, ®óng téi.
[3].Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận tội, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền do phạm tội mà có. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
XÐt bÞ c¸o Nguyễn Văn C chưa có tiền án, tiền sự nhân thân tốt, lần đầu phạm tội có nhiÒu t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù, cã n¬i c tró râ rµng nªn Héi ®ång xÐt xö thÊy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương n¬i c tró còng ®¶m b¶o môc ®Ých gi¸o dôc, trõng trÞ vµ r¨n ®e phßng ngõa téi ph¹m.
[4].Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn C thu lời với số tiền thấp, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5].VÒ vËt chøng: Đối với 01 phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-CoV2 PCR cần tịch thu lưu hồ sơ; đối với 01 màn hình máy vi tính màu đen, nhãn hiệu Samsung, 01 bàn phím màu đen, nhãn hiệu Fuhlen, 01 chuột màu đen nhãn hiệu Genius, 05 đoạn dây điện kết nối, 01 case máy tính nhãn hiệu U-TEK, vỏ màu đen (bên trong case có lắp 02 ổ cứng), 01 máy Scan nhãn hiệu Canon, loại Lide, 01 máy in màu nhãn hiệu EPSON L1800, 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh bên trong lắp sim, 01 ổ cứng máy tính, nhãn hiệu Toshiba là tài sản chung của bị cáo Nguyễn Văn C và chị Bùi Thị Phương. Tuy nhiên đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước ½ giá trị tài sản phát mại, cần trả lại cho chị Bùi Thị Phương ½ giá trị còn lại. Đối với số tiền 200.000đ bị cáo C giao nộp đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần sung quỹ Nhà nước; đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X, màu trắng xám, imei số: 353041097212457, bên trong lắp sim không dùng vào việc phạm tôi nên trả lại cho bị cáo; đối với 01 sim điện thoại không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[6]. Các vấn đề khác : Trong vụ án này, ngoài hành vi làm giả tài liệu nêu trên, quá trình giám định máy vi tính, máy điện thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn C còn phát hiện C có các giao dịch làm giả các loại giấy tờ, tài liệu của các cơ quan tổ chức cho những người có nhu cầu. Bản thân bị cáo C cũng khai nhận đã làm giả phiếu xét nghiệm Covid cho nhiều người. Tài liệu điều tra đến nay Cơ quan điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của những người có nick zalo có giao dịch làm giấy tờ giả với C, chưa thu giữ được các phiếu xét nghiệm Covid 19 do C làm ra cho khách; có phiếu xét nghiệm Covid thì được C hoặc do người mua đều khai đã đốt bỏ đi, không thu giữ để trưng cầu giám định được nên chưa đủ căn cứ xử lý. Đối với người phụ nữ khai tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1997, trú tại phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn có hành vi thuê C làm giả phiếu xét nghiệm đã thu giữ được vào ngày 16-8-2021 nêu trên; quá trình điều tra chưa xác định được họ tên, tuổi, nơi cư trú thật của người này ở đâu nên chưa có căn cứ xử lý. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 11 ngày 28-11-2022 để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với chị Bùi Thị P không biết C sử dụng máy vi tính, điện thoại và máy móc khác để làm giả tài liệu nên cơ quan điều tra không xử lý..
[7]. VÒ ¸n phÝ: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 §iÒu 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a,b,c khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 106; kho¶n 2 Điều 135, kho¶n 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “ Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trưêng hîp bÞ c¸o thay ®æi n¬i cư tró th× thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 3 §iÒu 92 LuËt thi hµnh ¸n h×nh sù. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Lưu hồ sơ 01 phiếu trả lời kết quả xét nghiệm Sars-Cov2; tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước ½ giá trị 01 màn hình máy vi tính màu đen, nhãn hiệu Samsung, loại E1920; 01 bàn phím màu đen, nhãn hiệu Fuhlen; 01 chuột màu đen nhãn hiệu Genius; 05 đoạn dây điện kết nối; 01 case máy tính nhãn hiệu U-TEK, vỏ màu đen; 01 máy Scan, nhãn hiệu Canon, loại Lide 300, vỏ màu đen; 01 máy in màu nhãn hiệu EPSON L1800; 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart màu xanh, số imei1: 353442112002719, imei2: 353442112002727; 01 ổ cứng máy tính, nhãn hiệu Toshiba, dung lượng 500GB, vỏ màu đen; trả lại cho chị Bùi Thị Phương ½ giá trị còn lại; tịch thu sung quỹ số tiền 200.000đ, tiêu huỷ 01 sim điện thoại; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 điện thoại nhãn hiệu iphone X, màu trắng xám, imei số: 353041097212457, bên trong lắp sim. KTHS (tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28-12-2022 giữa công an thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị Bùi Thị P có mặt có quyÒn kh¸ng c¸o phần b¶n ¸n liên quan đến quyền lợi của mình trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Kinh Môn; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra công an TX.Kinh Môn; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA TX. Kinh Môn; - Cơ quan THA HS công an TX. Kinh Môn; - Chi cục THADS thị xã Kinh Môn; - UBND phường Minh Tân; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hằng |