vanban.org

Bản án 19/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 15/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo: Đ 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 18 (Mười tám) tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Thiên Đ - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁNNHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HS-PT
Ngày 27-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Phương.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thuý

Bà Nguyễn Minh Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 06/2023/TLPT-HS, ngày 12 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2022/HS-ST, ngày 08 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo: Đ, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1993 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 4, xã CA, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Thiên H (đã chết) và bà Đỗ Thị K; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 26 tháng 3 năm 2022, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 01 tháng 4 năm 2022; có mặt.

- Ngoài ra còn có 07 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 26-03-2022, Đ đang ở nhà thì H, C, L, V đến nhà Đ ngồi chơi, uống nước. Khoảng 10 giờ cùng ngày, tất cả rủ nhau đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền, tại phòng ngủ của Đ. Trước khi chơi Hoàn lấy quân bài tú lơ khơ, dùng kéo cắt thành 04 quân vị có hai mặt đen trắng còn Đ lấy 01 chiếc bát bằng sứ, 01 chiếc đĩa bằng sứ đặt lên trên chiếu đã dải sẵn trong phòng từ trước. Sau đó, tất cả cùng nhau đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Hoàn là người cầm cái, những người còn lại đặt tiền cược. Khi đánh xóc đĩa tất cả đều quy ước mỗi ván chơi có hai cửa chẵn, lẻ để những người chơi đặt tiền, người cầm cái cầm bộ bát đĩa bên trong đựng 04 quân vị xóc lên thì những người chơi đặt tiền ở cửa chẵn hoặc cửa lẻ, số tiền đặt cược tối thiểu là 50.000 đồng, không giới hạn số tiền đặt cược tối đa, sau đó người cầm cái mở bát ra, nếu có hai quân vị màu trắng và hai quân vị màu đen hoặc cả bốn quân vị cùng một màu thì người chơi đặt tiền ở cửa chẵn thắng, nếu có một quân vị trong bốn quân vị có màu trắng, ba quân vị còn lại có màu đen hoặc ngược lại thì người chơi đặt tiền ở cửa lẻ thắng, người cầm cái sẽ phải trả cho người chơi thắng số tiền tương ứng mà người đó đã đặt và ngược lại người cầm cái sẽ được tiền ở cửa của những người chơi thua.

Khi Đ, H, C, L và V đang đánh bạc thì Bùi Văn Đ, Nguyễn Hùng C, Ngô Ngọc B đến nhà Đ chơi thì thấy tất cả đang đánh bạc, bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền nên Cường, Đạm, Bé tham gia đánh bạc cùng.

Khi tất cả đang đánh bạc thì Đỗ Hữu M, sinh năm 1994 ở Thôn 4, xã CA, huyện VB, thành phố Hải Phòng đến nhà Đ nhưng không tham gia đánh bạc mà ngồi xem. Quá trình đánh bạc không có ai thu hồ, không có ai canh gác, không ai cho vay mượn tiền hoặc tài sản gì khác để chơi đánh bạc.

Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày Công an huyện VB phát hiện, bắt quả tang H, Đ, V, L, Bùi Văn Đ, Ngô Ngọc B, còn Nguyễn Hùng C, C và Đỗ Hữu M lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Thu giữ trên chiếu bạc 21.750.000 đồng, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị và 02 chiếu bằng nhựa. Ngoài ra, còn thu giữ trong người Đ 10.500.000 đồng, Bùi Văn Đạm 3.000.000 đồng, L 2.500.000 đồng và Ngô Ngọc Bé 9.000.000 đồng.

Ngày 04-4-2022, C và Nguyễn Hùng C đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB đầu thú. Ngày 21-5-2022, Đỗ Hữu Mỹ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của họ như nêu trên. Bị cáo H khai: Trước khi đánh bạc có 4.000.000 đồng dùng để đánh bạc, khi đánh bạc bị thua hết. Bị cáo Đ khai: Trước khi đánh bạc có 11.300.000 đồng dùng để đánh bạc, khi đánh bạc thua 800.000 đồng. Bị cáo C khai: Trước khi đánh bạc có khoảng 6.000.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bị bắt đã bỏ hết tiền xuống chiếu bạc để chạy trốn và không biết đang thắng hay thua. Nguyễn Hùng C khai: Trước khi đánh bạc có khoảng 6.000.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bị bắt đã bỏ hết tiền xuống chiếu bạc để chạy trốn và không biết đang thắng hay thua. Bị cáo Nguyễn Hùng C khai: Trước khi đánh bạc có khoảng 6.000.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bị bắt đã bỏ hết tiền xuống chiếu bạc để chạy trốn và không biết đang thắng hay thua. Bị cáo V khai: Trước khi đánh bạc có 4.950.000 đồng dùng để đánh bạc, khi đánh bạc thắng 5.050.000 đồng. Bị cáo L khai: Trước khi đánh bạc có 3.000.000 đồng dùng để đánh bạc, khi đánh bạc thua 500.000 đồng. Bị cáo Bùi Văn Đ khai: Trước khi đánh bạc có 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc, khi đánh bạc thắng 1.000.000 đồng. Bị cáo Ngô Ngọc B khai: Trước khi đánh bạc có 9.500.000 đồng, trong đó dùng 500.000 đồng để đánh bạc và thua hết. Đỗ Hữu M khai: không tham gia đánh bạc tại nhà Đ. Các bị cáo đều khai Đỗ Hữu M không tham gia đánh bạc.

Tại giai đoạn truy tố, bị cáo Ngô Ngọc B khai số tiền dùng để đánh bạc nhiều hơn 500.000 đồng và khai Đỗ Hữu M có tham gia đánh bạc tại nhà Đ. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện VB đã trả hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB để điều tra bổ sung. Quá trình điều tra bổ sung xác định được Ngô Ngọc B trước khi đánh bạc có 9.800.000 đồng, trong đó dùng 800.000 đồng để đánh bạc và thua hết. Đỗ Hữu M không thừa nhận đánh bạc tại nhà Đ, tiến hành đối chất nhưng M và Bé giữ nguyên lời khai của mình.

Về việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VB đã thu giữ 01 bắt sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị, 02 chiếu bằng nhựa và số tiền 46.750.000 đồng, chuyển Chi cục Thi hành án huyện VB bảo quản.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2022/HS-ST, ngày 08 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng, căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ18 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 18 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án phạt tù. Bị cáo Đ được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26-3-2022 đến ngày 01-4-2022.

Căn cứ vào Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đ. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính kể từ ngày tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Căn cứ vào Điều 35, khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo Đ 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ phải chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14 tháng 12 năm 2022, bị cáo Đ kháng cáo đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo phạm tội Tổ chức đánh bạc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 và tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm quyết định đối với bị cáo là nghiêm khắc nên bị cáo kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo. Tại phiên toà bị cáo xuất trình Biên lai nộp tiền phạt 20.000.000 đồng và tiền án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm. Bị cáo trình bày và nộp tài liệu bác của bị cáo là thương binh.

* Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bị cáo phạm tội Tổ chức đánh bạc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 và tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Việc bị cáo nộp tiền phạt và tiền án phí thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo. Bị cáo trình bày bác bị cáo là thương binh nhưng đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Những tình tiết này không phải là những tình tiết làm thay đổi mức hình phạt đối với bị cáo. Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định mức hình phạt nhẹ hơn so với đề nghị của Viện Kiểm sát cấp sơ thẩm 03 tháng là đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ tối đa cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Đ đúng thủ tục, trong thời hạn luật định, đúng với quy định tại các Điều 332, 333 và 334 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

- Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đ.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm. Bản án sơ thẩm đã kết tội bị cáo về 02 tội là tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 và tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại giai đoạn phúc thẩm, không có tình tiết gì mới làm thay đổi các quyết định của bản án sơ thẩm. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp nên không cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm - điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm - Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản điểm c khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

2. Xử phạt bị cáo: Đ 18 (Mười tám) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 18 (Mười tám) tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/3/2022 đến ngày 01/4/2022.

Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đ cho đến khi thi hành án.

Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

3. Phạt bị cáo Đ số tiền 20.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

4. Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của Bản án số 57/2022/HS-ST ngày 08 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ