- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lương Công D xin ly hôn xin Nguyễn Thị Hồng Ph"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Lương Công D và chị Nguyễn Thị Hồng P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08/8/2023 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
+ Ông Đinh Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXX- HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn: Anh Lương Công D, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn 4, xã T, huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam. Có mặt.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1986.
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn và quá trình xét xử, anh Lương Công D là nguyên đơn trình bày: Anh và chị P kết hôn với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 25 tháng 6 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng với bố, mẹ đẻ anh tại thôn 4, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, trong cuộc sống không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, cãi chửi nhau. Tháng 9 năm 2010, chị P đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn 4, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và cũng kể từ đó cho đến nay đã hơn 10 năm chị P không về chung sống cùng anh. Tõ khi chị P bá ®i anh ®· dïng nhiÒu biÖn ph¸p ®Ó t×m kiÕm chị P nhưng vẫn không có tin tức gì nên anh đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tuyên bố một người mất tích đối với chị P theo quy định của pháp luật. Ngày 23/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng đã mở phiên họp và ra Quyết định số 02/2023/QĐDS-ST chấp nhận yêu cầu của anh, tuyên bố chị Nguyễn Thị Hồng P mất tích. Kể từ ngày Tòa án ra Quyết định tuyên bố chị P mất tích cho đến nay chị P vẫn không trở về chung sống cùng với bố con anh lần nào và cũng không có mặt ở địa phương. Chị P đi đâu và làm gì anh không biết. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với chị P.
Chị P là bị đơn đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần và được niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt.
Về con chung, con riêng: Không có.
Về tài sản chung, riêng; công sức đóng góp; diện tích đất nông nghiệp và công nợ: Không có.
Tại phiên tòa anh D vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bầy và không thay đổi bổ sung gì. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia Tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 68 của Bộ luật Dân sự; các Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lương Công D: Xử ly hôn giữa anh Lương Công D và chị Nguyễn Thị Hồng P. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng, dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của anh Lương Công Dương yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Hồng P là bị đơn; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn 4, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chị Nguyễn Thị Hồng P đã được Tòa án th«ng b¸o, triÖu tËp hîp lÖ nhiÒu lÇn vµ niªm yÕt c«ng khai c¸c v¨n b¶n tè tông t¹i n¬i c tró cuèi cïng cña chị Phương, tại trụ sở UBND xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng nh ng vÉn v¾ng mÆt. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Công D và chị Nguyễn Thị Hồng P kết hôn với nhau tù nguyÖn có đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 12 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh, chị sinh sống tại thôn 4, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, trong cuộc sống không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, cãi chửi nhau. Tháng 9 năm 2010, chị P đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú cuối cùng là thôn 4, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và cũng kể từ đó cho đến nay đã hơn 10 năm chị P không về chung sống cùng anh. Tõ khi chị P bá ®i anh ®· dïng nhiÒu biÖn ph¸p ®Ó t×m kiÕm chị P nhưng vẫn không có tin tức gì nên anh đã đề nghị Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tuyên bố một người mất tích đối với chị P theo quy định của pháp luật và được Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng chấp nhận theo Quyết định số 02/2023/QĐDS-ST ngày 23 tháng 3 năm 2023 tuyên bố chị Nguyễn Thị Hồng P mất tích. Kể từ ngày Tòa án ra Quyết định một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị Hồng P cho đến nay, chị vẫn không trở về chung sống cùng với anh D và cũng không có mặt ở địa phương lần nào. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu của anh D xin ly hôn chị P là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự.
Về con chung, con riêng: Anh D trình bầy không có, không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, riêng; công nợ; công sức đóng góp và diện tích đất nông nghiệp: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh D đều trình bầy không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự; các Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Lương Công D và chị Nguyễn Thị Hồng P.
2. Án phí: Anh Lương Công D phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào khoản tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0002094 ngày 10 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng. Anh Dương đã nộp đủ.
Án xử sơ thẩm công khai sơ thẩm, anh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - T.H.A dân sự huyện Kim Bảng; - UBND xã Thi Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S¥ TH¢M Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Nguyệt |