- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16-02-2023 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hùng Bích;
2. Ông Lê Thành Thật.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Kiều Văn Liêu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 503/2022/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 12, ấp M1, xã MHH, thành phố LX, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện tại: Ấp A, xã B, huyện CM, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Đỗ Duy Th, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 12, ấp M1, xã MHH, thành phố LX, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 19/10/2022 nguyên đơn bà Trần Thị X thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:
Bà X và ông Th quen biết nhau qua mai mối và đi đến hôn nhân. Hôn nhân có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Hòa Hưng được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 49 ngày 20/3/2009. Sau khi kết hôn bà X và ông Th sống hạnh phúc được 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tình cảm bất đồng, thường xuyên cãi vả và hiện tại đang sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân bà X và ông Th không có điều kiện đoàn tụ. Ông Th hiện đang sống với người phụ nữ khác và tình cảm giữa ông bà không còn, cũng không có khả năng hàn gắn. Nay, cuộc hôn nhân giữa bà và ông Th không hạnh phúc nên bà yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên giải quyết:
- Về hôn nhân: Ly hôn với ông Đỗ Duy Th;
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Đỗ Ngọc Thanh H, sinh ngày 23/5/2009 và Đỗ Ngọc Huyền Tr, sinh ngày 19/02/2013. Sau khi ly hôn bà X yêu cầu được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị đơn ông Đỗ Duy Th vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa ngày 16 tháng 02 năm 2023: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà X với ông Th.
+ Về con chung: Giao con chung Đỗ Ngọc Thanh H, sinh ngày 23/5/2009 và Đỗ Ngọc Huyền Tr, sinh ngày 19/02/2013. Về cấp dưỡng nuôi con không xem xét do bà X không yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
+ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà X phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà X khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn với ông Th. Ông Th có nơi cư trú tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Bà X vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông Th được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà X, ông Th.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Bà X và ông Th tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào ngày 20 tháng 3 năm 2009. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà X yêu cầu ly hôn với ông Th. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi. Vợ chồng đã ly thân. Hiện tại do tình cảm không còn nên bà X yêu cầu được ly hôn với ông Th. Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc hôn nhân giữa bà X và ông Th; ông, bà lại không thực hiện các nghĩa vụ này. Quá trình giải quyết vụ án, ông Th không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không tham dự các buổi hòa giải, không tham dự phiên tòa, không đưa ra được giải pháp hàn gắn hôn nhân giữa ông, bà. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông Th. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà X với ông Th.
Về con chung: Bà X và ông Th có hai con chung Đỗ Ngọc Thanh H, sinh ngày 23/5/2009 và Đỗ Ngọc Huyền Tr, sinh ngày 19/02/2013. Khi ly hôn, bà X yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản ghi ý kiến của cháu H ngày 19/10/2022 và cháu Tr ngày 26/12/2022 thể hiện hai cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Do ông Th không có văn bản thể hiện yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và cũng không tranh chấp việc nuôi con với bà X nên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung. Hội đồng xét xử quyết định giao hai con chung cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà X phải tạo điều kiện cho ông Th trong việc trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Bà X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Bà X trình bày không có tuy nhiên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì bà X, ông Th phải liên đới trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà X phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị X với ông Đỗ Duy Th.
Giấy chứng nhận kết hôn số 49, quyển số I/2009 do UBND xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho Đỗ Duy Th và Trần Thị X ngày 20 tháng 3 năm 2009 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2/ Về con chung: Đỗ Ngọc Thanh H, sinh ngày 23/5/2009 và Đỗ Ngọc Huyền Tr, sinh ngày 19/02/2013 giao cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn.
Bà X phải tạo điều kiện cho ông Th trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Việc nuôi con chung không cố định.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Ông Th không phải cấp dưỡng nuôi con do bà X không yêu cầu.
3/ Về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà X phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001088 ngày 05 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà X đã nộp đủ.
5/ Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị X, ông Đỗ Duy Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện Kiểm sát nhân dân TPLX; - Chi cục Thi hành án dân sự TPLX; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Lưu Văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bé Thu |