- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thương -Hiển"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T. Bà Đặng Thị T được ly hôn với ông Hồ Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16-2-2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí.
2. Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Phạm Huy Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2581/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1988.
- Bị đơn: Ông Hồ Ngọc H, sinh năm 1989.
Cùng địa chỉ: 932, tổ 18, khu phố Vườn Dừa, phường Phước Tân, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông H vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Đặng Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông H tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường Phước Tân, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05/2010 ngày 07/01/2010. Từ khi hai vợ chồng bà kết hôn đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Bên cạnh đó quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Hiện nay hai vợ chồng bà đã sống ly thân. Nay bà T xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông H.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Ngọc Đức Anh, sinh ngày 10/5/2010. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Hồ Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có bản tự khai nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét cuộc sống vợ chồng của bà T, ông H không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà T yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Về con chung: Giao con chung tên Hồ Ngọc Đức Anh, sinh ngày 10/5/2010 cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông H nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Đặng Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Ngọc H, yêu cầu được nuôi con chung. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, con chung”; Bà Đặng Thị T là nguyên đơn, ông Hồ Ngọc H là bị đơn.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đặng Thị T nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Hồ Ngọc H hiện đang cư trú tại phường Phước Tân, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt neân toøa aùn tieán haønh xét xử vắng mặt bà T, ông H theo quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị T và ông Hồ Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường Phước Tân, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05/2010 ngày 07/01/2010 nên áp dụng Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp. Từ khi hai vợ chồng bà kết hôn đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trong vấn đề cuộc sống. Bên cạnh đó quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất, vì vậy thường xuyên cãi vã, không tôn trọng lẫn nhau. Hiện nay hai vợ chồng bà đã sống ly thân. Nay bà T xác định không còn tình cảm nên xin được ly hôn với ông H.
Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập ông H đến Tòa làm việc nhưng ông H vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi thể hiện việc ông H không tích cực trong việc hòa giải, hàn gắn quan hệ vợ chồng, không thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà T. Qua kết quả xác minh tại Công an phường Phước Tân, thành phố B thể hiện nội dung: Ông Hồ Ngọc H có đăng ký thường trú và hiện vẫn đang sinh sống tại địa phương. Kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân phường Phước Tân địa phương không nắm rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông H.
Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông H là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, giải quyết cho bà T được ly hôn với ông H để trả tự do cả hai là phù hợp.
Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Ngọc Đức Anh, sinh ngày 10/5/2010. Ly hôn, do bà T thực tế đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đức Anh và bà T cũng có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đức Anh, tại bản tự khai ngày 19/10/2022 cháu Đức Anh cũng có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Do đó giao cháu Hồ Ngọc Đức Anh cho bà T trực tiếp chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Tạm thời, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có lời khai của ông H nên tách ra giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, 11, 56, Điều 85, Điều 89, Điều 91, Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị T. Bà Đặng Thị T được ly hôn với ông Hồ Ngọc H.
2. Về con chung: Giao con chung tên Hồ Ngọc Đức Anh, sinh ngày 10/5/2010 cho bà Đặng Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Hồ Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Đặng Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004152 ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà T đã nộp xong án phí.
Bà T, ông H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.
T.M HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM
Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- VKS ND tỉnh Đồng Nai;
- T.H.A dân sự TP. Biên Hoà;
- VKS TP Biên Hoà;
- Các đương sự.
- UBND nơi đăng ký kết hôn
- Lưu HS, VP.
Trần Thị Thúy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thúy
T.M HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM
Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKS ND tỉnh Đồng Nai; - T.H.A dân sự TP. Biên Hoà; - VKS TP Biên Hoà; - Các đương sự. - UBND nơi đăng ký kết hôn - Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | Trần Thị Thúy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thành Thị Thu Trang |