vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Mộng T.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Mộng T được ly hôn với ông Ngô Ngọc H. Về án phí: Bà Nguyễn Mộng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Th yêu cầu giải quyết cho bà ly hôn với ông H. Vơ chồng không có con chung và tài sản chung."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Mộng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25-9-2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Danh Văn Hoàng

Ông Dương Thanh Minh

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 110/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Mộng T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Ngô Ngọc H, sinh năm 1986. Hộ khẩu thường trú: Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. Chỗ ở hiện nay: Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Mộng T trình bày:

Qua thời gian quen biết, bà Nguyễn Mộng T và ông Ngô Ngọc H về chung sống với nhau năm 2020, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An ngày 15/02/2022. Hai người sinh sống tại Khu phố B, thị trấn V. Bà T cho rằng thời gian đầu cuộc sống vợ chồng cũng hạnh phúc, nhưng thời gian sau này thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng do ông H thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc, đánh đập bà T. Hiện nay bà T không còn tình cảm với ông H vì cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Ngô Ngọc H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa, không thể hiện ý kiến trước yêu cầu ly hôn của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1.1] Căn cứ đơn khởi kiện, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố Tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông Ngô Ngọc H vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An vào ngày 15/02/2022 nên đây là hôn nhân hợp pháp, bà T yêu cầu giải quyết ly hôn sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Bà T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ việc ông ông H thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc, đánh đập bà T. Hiện nay bà T không còn tình cảm với ông H vì cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

Đối với bị đơn, mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông Ngô Ngọc H vẫn vắng mặt nhiều lần không thể hiện ý kiến trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như hai lần mở phiên Tòa, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T, bỏ mặc kết quả giải quyết vụ án.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, căn cứ quy định tại các điều 19, 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Bà T trình bày bà và ông H không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà T cho rằng bà và ông H không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà T trình bày không có nợ chung và tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ly hôn cũng không có ai tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Mộng T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các điều 19, 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Mộng T.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Mộng T được ly hôn với ông Ngô Ngọc H.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Mộng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0004144 ngày 10/7/2023 sang tiền án phí.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa được biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ