vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Néang Chăm P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Néang Chăm P được ly hôn với anh Chau K. Giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 03 tháng 02 năm 2017 của Ủy ban nhân dân xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Néang Chăm P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:19/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22-5-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp quyền
nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN – TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Nữ Ngọc Lan Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Tài

Bà Chế Thị Hồng Cẩm

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Liệu Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Chau Pho Ly - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 369/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 về Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXX-ST ngày 18 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/QĐST-HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Néang Chăm P, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ 5, ấp B, xã C, huyện T, tỉnh A (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Chau K, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 2, ấp Sà Lôn, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (vắng mặt).

3. Phiên dịch tiếng Khmer: Ông Kim S, sinh năm 1964; địa chỉ: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh A (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong khởi kiện xin ly hôn ngày 01-11-2022 và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Néang Chăm P trình bày: Chị và anh Chau K qua quá trình tự tìm hiểu nhau nên chị và anh Chau K đã tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 03-02-2017 tại Uỷ ban nhân dân xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn chị và anh Chau K chung sống hạnh phúc tại ấp Bằng Rò, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nhưng khoảng từ năm 2020, anh Chau K và chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là anh Chau K không chăm lo cho gia đình, anh K tự ý mua xe mô tô cho con riêng mà không bàn tính với chị, vợ chồng có thường xuyên cải vã, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị và anh K đã ly thân khoảng được 02 năm. Nay nhận thấy chị không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng cùng anh Chau K, chị Néang Chăm P xin ly hôn với anh Chau K.

Về con chung: Có 01 con chung tên Neáng Keo Thi Đ, sinh ngày 03-6-2020 hiện đang sống cùng chị P. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Chau K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Chau K Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Chau K để tham gia tố tụng nhưng anh K vắng mặt không rỏ lý do, nên không tiếp nhận lời khai của anh Chau K.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn: Chị Néang Chăm P vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Chau K; yêu cầu nuôi dưỡng con chung; tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Chau K Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Chau K để tham gia tố tụng nhưng anh Chau K vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Về việc chấp hành pháp luật: Đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình tại Điều 71 BLTTDS. Tuy nhiên, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ những vẫn cố tình vắng mặt là vi phạm Điều 72 BLTTDS.

- Về ý kiến việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ nhận thấy vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh K đi làm không đưa tiền và tự ý mua xe mô tô cho con riêng mà không bàn bạc với chị, nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và hiện nay đã ly thân, trong thời gian ly thân thì vợ chồng cũng không có liên lạc với nhau để hàn gắn lại cuộc sống gia đình và hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau. Do đó, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn lại, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P xin ly hôn với anh K. Từ những phân tích trên xét thấy chị P xin ly hôn với anh K là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Có 01 con chung tên Néang Keo Thi Đa, sinh ngày 03-6-2020 hiện đang sống cùng chị P, đồng thời cháu Đa dưới 36 tháng tuổi nên giao cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá về vụ án như sau:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Chau K cư trú tại tổ 2, ấp Sà Lôn, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, quan hệ tranh chấp là quan hệ hôn nhân và gia đình là loại tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Chau K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, nhưng anh Chau K vắng mặt không rõ lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với anh Chau K.

Về nội dung tranh chấp: Quan hệ hôn nhân giữa chị Néang Chăm P và anh Chau K được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 03-02-2017 theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên giữa chị và anh sau khi kết hôn, do phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân chính chị P cho rằng anh K không quan tâm chăm sóc gia đình, anh K tự ý mua xe mô tô cho con riêng mà không bàn tính với chị, nên vợ chồng có thường xuyên cải vã, cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh Chau K không hạnh phúc, do quá nhiều mâu thuẫn nên không thể chung sống vợ chồng chị và anh Chau K đã ly thân với nhau khoảng được 02 năm nay.

Quá trình tố tụng của Tòa án, cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Chau K, nhằm đảm bảo quyền lợi của anh Chau K theo quy định của pháp luật để anh Chau K được trình bày ý kiến, nhưng anh Chau K vẫn vắng mặt và anh có có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị P. Do vậy, Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh Chau K.

Tại biên bản xác minh ngày 03-02-2023 ban ấp Bằng Rò, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xác định tình trạng hôn nhân giữa anh K và chị P có xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không bàn bạc với nhau về việc anh K tự ý mua xe, do đó vợ chồng thường xuyên cự cải. Hiện chị P và anh K đã sống ly thân. Giữa chị P và anh K có 01 con chung tên Néang Keo Thi Đa, sinh ngày 23-6-2020 hiện do chị K nuôi dưỡng.

Theo biên bản xác minh ngày 13-02-2023 tại Công an xã Lương Phi xác định anh Chau K vẫn còn thường xuyên sinh sống tại ấp Sà Lôn, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Hội đồng xét xử nhận thấy, Hôn nhân là nhằm giúp vợ chồng xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, nhưng do vợ chồng không có tiếng nói chung trong việc giải quyết cuộc sống gia đình. Tuy nhiên giữa chị P và anh K không hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân, bất đồng quan điểm sống, giữa chị P và anh K không hòa hợp trong cuộc sống hôn nhân, cả hai không giành thời gian quan tâm chăm sóc gia đình, chia sẻ, động viên nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống gia đình, đã ly thân được 02 năm, nhưng từ khi ly thân đến nay hai bên cũng không gặp gỡ nhau nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Từ đó Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh Chau K rơi vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu của chị P về việc yêu cầu ly hôn với anh Chau K là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên Neáng Keo Thi Đ, sinh ngày 03-6-2020. Sau khi ly hôn chị P có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh Chau K cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhằm ghi nhận ý kiến anh Chau K, nhưng anh Chau K vắng mặt. Tại phiên tòa chị P vẫn xin được nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi chị P và anh K ly thân đến nay, bé Neáng Keo Thi Đ đều do chị P chăm sóc, nuôi dưỡng và chị P đảm bảo các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cháu Thi Đa, bên cạnh đó cháu Thi Đa còn quá nhỏ vẫn cần sự chăm sóc của người mẹ. Do vậy, nhằm tạo điều kiện sự phát triển toàn diện các cháu, tránh xáo trộn đời sống tâm lý của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Neáng Keo Thi Đ, sinh ngày 03-6-2020. cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị P không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị P là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình, chị P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Néang Chăm P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Néang Chăm P được ly hôn với anh Chau K.

Giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 03 tháng 02 năm 2017 của Ủy ban nhân dân xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao cháu Neáng Keo Thi Đ, sinh ngày 03-6-2020. cho chị Néeang Chăm P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Chau K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Néang Chăm P phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Néang Chăm P đã nộp theo biên lai thu số 0009746 ngày 16 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ