- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Y - Nguyễn Chí T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/…
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 02 - 2023 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TL, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Hồng Hạnh
2. Bà Trần Thị Minh Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện TL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TL, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tú, kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TL, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 301/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Y, sinh năm 1996
Địa chỉ: Ấp TBB, xã TT, huyện TL, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Anh Đặng Chí Th, sinh năm 1991
Địa chỉ: Ấp TBB, xã TT, huyện TL, thành phố Cần Thơ.
(Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Đặng Thị Y trình bày: Chị và anh Đặng Chí Th thông qua mai mối đã chung sống, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm 2014. Vợ chồng chị có 02 người con chung tên Đặng Thị Hồng P, sinh ngày 15/8/2019 và Đặng Thị Như Y1, sinh ngày 06/11/2014. Sau khi tổ chức lễ cưới thì chị về nhà anh Th chung sống cùng gia đình anh Th. Quá trình chung sống, chị và gia đình chồng có nhiều xung đột trong sinh hoạt hàng ngày, anh Th không làm trung gian hòa giải. Do đó, giữa chị và anh Th thường xuyên nãy sinh mâu thuẫn, cự cãi. Từ đó, vợ chồng chị bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vào cuối tháng 10/2022 chị đã ra ngoài sinh sống cho đến nay. Chị cảm thấy không còn tình cảm với anh Th nên yêu cầu được ly hôn với anh Th. Hiện nay các cháu P và Y1 đang sống cùng anh Th, chị đồng Y1 giao anh Th tiếp tục nuôi dưỡng. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu P và Y1 mỗi cháu 1000.000 đồng/ tháng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Vợ chồng chị không tạo lập tài sản chung nào và không nợ ai nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Đặng Chí Th trình bày: Anh và chị Y thông qua mai mối đã tổ chức lễ cưới, chung sống và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm 2014. Vợ chồng anh có 02 người con chung tên Đặng Thị Hồng P, sinh ngày 15/8/2019 và Đặng Thị Như Y1, sinh ngày 06/11/2014. Trong quá trình chung sống, vợ chồng cũng có cãi vã nhưng chỉ là những việc nhỏ nhặt trong gia đình, không liên quan đến cha mẹ. Giữa vợ anh và cha mẹ anh cũng không có xung đột gì. Cách đây khoảng 01 tháng, anh có phát hiện vợ anh và 01 người thanh niên lạ chụp ảnh thân mật, anh cho rằng vợ anh đã ngoại tình nhưng vợ anh không thừa nhận, chỉ cho rằng là quan hệ bạn bè bình thường. Sau khi vợ anh ra ngoài sinh sống thì gia đình vợ anh có đến gặp cha mẹ anh và anh để xin hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng vợ anh cũng không có thiện chí hàn gắn, chỉ đòi ly hôn. Do vợ anh đã yêu thương người khác nên anh cũng không thể yêu thương và đoàn tụ với vợ được. Anh chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ anh là chị Y. Khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu P và cháu Y1. Yêu cầu vợ anh cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Vợ chồng anh không có tạo lập được tài sản và không có nợ ai nên không yêu cầu giải quyết.
Cháu Đặng Thị Như Y1 trình bày nguyện vọng được tiếp tục sống cùng cha, nếu cha mẹ cháu ly hôn. Cháu Hồng P chưa đủ 07 tuổi nên không ghi nhận Y1 kiến của cháu.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Về nội dung: căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Y về việc xin được ly hôn với ông Đặng Chí Th; giao 02 con chung cho ông Đặng Chí Th nuôi dưỡng, chấp nhận bà Y cấp dưỡng 1.000.000đồng/ tháng cho mỗi cháu. Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn và bị đơn xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đặng Chí Th có địa chỉ thường trú tại ấp TBB, xã TT, huyện TL, thành phố Cần Thơ. Căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TL.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Y và anh Đặng Chí Th có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hôn nhân giữa chị Y và anh Th là tự nguyện và hợp pháp. Chị Y xác định vợ chồng chị không cùng quan điểm sống, không còn tình cảm với nhau và đã không còn chung sống với nhau. Anh Đặng Chí Th cũng cho rằng chị Y không còn yêu thương anh nên anh, gia đình hàn gắn không thành nên anh cũng không níu kéo quan hệ hôn nhân với chị Y, anh đồng ý ly hôn với chị Y.
Hội đồng xét xử xét thấy, qua sự trình bày của anh Th và chị Y cũng như quá trình Tòa án triệu tập làm việc, cả hai không có thiện chí gặp nhau, chị Y và anh Th có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Điều đó thể hiện cả chị Y và anh Th đều không mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân, đủ căn cứ xác định đời sống hôn nhân giữa chị Y và anh Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị Y và anh Th.
Về con chung: Chị Y và anh Th có 02 người con chung tên Đặng Thị Hồng P, sinh ngày 15/8/2019 và Đặng Thị Như Y1, sinh ngày 06/11/2014. Hiện nay cháu P và cháu Y1 đều đang sống cùng anh Th. Anh Th có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu P và Y1, chị Y cũng thống nhất với đề nghị này của anh Th. Cháu Y1 cũng thể hiện nguyện vọng được tiếp tục sống cùng cha, cháu P chưa đủ 07 tuổi nên không ghi nhận ý kiến của cháu. Tuy nhiên, để đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý bình thường cũng như nhằm không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của các cháu, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu P và Y1 cho anh Th nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Y có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đặng Thị Y tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu P và cháu Y1 mỗi cháu 1.000.000 đồng/ tháng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Th thống nhất với sự tự nguyện này của chị Y. Sự thỏa thuận này của chị Y và anh Th không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Y và anh Th xác định không có nợ chung và tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng quy định tại điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị Đặng Thị Y và anh Đặng Chí Th.
2. Về con chung: Giao cháu Đặng Thị Hồng P, sinh ngày 15/8/2019 và Đặng Thị Như Y1, sinh ngày 06/11/2014 cho anh Đặng Chí Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị Đặng Thị Y được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Đặng Thị Y và anh Đặng Chí Th. Buộc chị Đặng Thị Y cấp dưỡng nuôi các cháu Đặng Thị Hồng P, sinh ngày 15/8/2019 và Đặng Thị Như Y1, sinh ngày 06/11/2014 mỗi cháu 1.000.000 đồng/ tháng, kể từ ngày 10/02/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng và án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng. Chị Y đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005910 ngày 15/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện TL được chuyển thu án phí. Chị Y còn phải nộp 300.000 đồng.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện TL; - Cơ quan THA huyện TL; - Lưu: HS; VT-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Ngọc Diễm |