vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi ly hôn, giao con chung tên là Đinh Bảo T – sinh ngày 15/10/2020 cho bà Đào Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đinh Công T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 10/2022 cho đến khi thuộc một trong các trường hợp làm chấm dứt nghĩa vụ cấp d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị Bích N - Đinh Công T "ly hôn""
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày 21-3-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Chí.

Ông Lê Văn Tuyển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trường – Thư ký Tòa án.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 274/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đào Thị Bích N, sinh năm 2001.

Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Đinh Công T, sinh năm 2000. Vắng mặt không có lý do.

Nơi cư trú: Thôn Lạc Mỹ, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Đào Thị Bích N và ông Đinh Công T tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 02 tháng 3 năm 2021 tại UBND xã H, Tây Hòa. Theo bà N trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó đến khoảng tháng 6/2022, ông T bỏ đi không quay về. Nguyên nhân vì ông T thiếu trách nhiệm với gia đình, bỏ đi chung sống với người phụ nữ khác. Bà N đã cắt đứt quan hệ vợ chồng, không còn chung sống với ông T, hiện bà N không còn tình cảm, không thể chung sống có hạnh phúc được nữa nên yêu cầu giải quyết ly hôn ông T. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên là Đinh Bảo T – sinh ngày 15/10/2020, yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Về tài sản chung, bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Đinh Công T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Đào Thị Bích N nộp đơn khởi kiện ngày 23/7/2022, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Đinh Công T có nơi cư trú tại xã H, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về hôn nhân: Tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà Đào Thị Bích N và ông Đinh Công T có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của bà N: Bà N trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do ông T thiếu trách nhiệm, không quan tâm chăm sóc gia đình, bỏ đi chung sống với người khác; hiện tại không còn chung sống với nhau, tình trạng mâu thuẫn được BND khu phố T xác nhận đúng sự thật. Từ những căn cứ trên cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện, bà Đào Thị Bích N được ly hôn ông Đinh Công T.

Về con chung: Bà N và ông T có một người con chung tên là Đinh Bảo T – sinh ngày 15/10/2020, hiện đang sống cùng bà N. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà N là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận, giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Ông T không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Xét mức cấp dưỡng bà N yêu cầu là cao, Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu, buộc ông T cấp dưỡng cho con mức 1.500.000 đồng tháng là phù hợp với mức sống trung bình tại địa phương.

Bà N không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐST, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Đào Thị Bích N được ly hôn ông Đinh Công T.

Sau khi ly hôn, giao con chung tên là Đinh Bảo T – sinh ngày 15/10/2020 cho bà Đào Thị Bích N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đinh Công T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 10/2022 cho đến khi thuộc một trong các trường hợp làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Ông Đinh Công T được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng cho con.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bà Đào Thị Bích N phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0005798 ngày 26/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Ông Đinh Công T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Nguyên đơn, bị đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ