- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Lò Thị S - Hà Văn L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị S được ly hôn với anh Hà Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày 29-6-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Hòa;
Ông Vương Huy Vượng.
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị S, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Bản X, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Hà Văn L, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Bản X, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu.
Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” cùng các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Lò Thị S trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn L về chung sống với nhau từ năm 2016, đến ngày 21/11/2016 thì tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh L nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình. Chị S và gia đình đã nhiều lần khuyên anh L từ bỏ ma tuý nhưng anh L không thay đổi nên chị S đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 9 năm 2020 đến nay. Từ lúc chị S và anh L ly thân đến nay giữa hai vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung và không còn quan tâm đến nhau, do vậy chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Văn L.
2. Về con chung: Chị S và anh Hà Văn L có 01 con chung là Hà Thị Hoài T, sinh ngày 10/9/2016. Chị S đề nghị Tòa án giao con chung là cháu T cho anh L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung vì từ khi ly thân vợ chồng chị đã thỏa thuận giao cháu T cho anh L nuôi dưỡng, chị S không phải cấp dưỡng nuôi con vì đã để loại toàn bộ tài sản để anh L nuôi con, từ thời điểm ly thân đến nay thì cháu T vẫn đang ở cùng với anh L, được anh L và bố mẹ anh L nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Chị S hiện đang đi làm ăn xa nên không có thời gian và điều kiện ở gần để chăm sóc con.
3. Về chia tài sản chung: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị S không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, anh Hà Văn L mặc dù biết chị S có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ đến Tòa án để làm việc nhưng cố tình vắng mặt mà không có lý do.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa xét xử vụ án ngày hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là vi phạm về nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70; Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lò Thị S và xem xét quyết định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị S được ly hôn với anh Hà Văn L; Về con chung: Giao con chung là Hà Thị Hoài T, sinh ngày 10/9/2016 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L không yêu cầu chị S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về chia tài sản chung: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị S, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí: Nguyên đơn chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Hà Văn L có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản Phương Nam, xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt không có lý do. Chị S có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 09/6/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, chị S có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị S và anh L là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị S và anh Hà Văn L về chung sống với nhau từ đầu năm 2016 đến ngày 21/11/2016 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh L là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị S và anh L hạnh phúc được khoảng 03 năm, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do anh L chơi bời, nghiện ma túy, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Chị S đã nhiều lần khuyên bảo anh L nhưng anh L không từ bỏ ma tuý, không yêu thương vợ con, không chịu tu chí làm ăn nên chị S đã bỏ về sống ở nhà bố mẹ đẻ tại huyện Than Uyên từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay. Hiện chị S không còn tình cảm, không còn yêu thương anh L nên chị xin được ly hôn với anh L.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng thời gian mâu thuẫn giữa chị S và anh L kéo dài và đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay, giữa chị S và anh L không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau nữa. Đặc biệt chị S không còn tình cảm yêu thương đối với anh L, không còn hạnh phúc khi chung sống với anh L, trong thời gian ly thân anh L cũng không tìm cách để hàn gắn tình cảm với chị S. Xét thấy hôn nhân giữa chị S và anh L đã thực sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Ủy ban nhân xã Mường Khoa cũng đã xác định giữa anh L và chị S có mâu thuẫn và đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 nên yêu cầu khởi kiện của chị S đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Lò Thị S có nguyện vọng giao con chung Hà Thị Hoài T, sinh ngày 10/9/2016 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Hội đồng xét xử nhận thấy con chung là cháu Hà Thị Hoài T sống với anh L và bố mẹ anh L từ nhỏ, được ông bà chăm sóc đầy đủ và phát triển khoẻ mạnh. Tại biên bản xác minh ngày 05/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, bà Hoàng Thị Lả (mẹ đẻ) và ông Hoàng Văn Pò (bố đẻ) của anh Hà Văn L cung cấp thông tin: Từ khi chị S và anh L ly thân đến nay thì cháu Hà Thị Hoài T sống với ông bà nội, anh L hiện đang đi làm ăn xa nhưng thi thoảng vẫn về thăm con và gửi tiền cho ông bà để nuôi con. Anh L trao đổi với gia đình là anh L cũng nhất trí ly hôn với chị S nhưng do đang đi làm xa nên không về Tòa án để tham gia giải quyết ly hôn được, anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu T, không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu chia tài sản chung. Vì vậy, căn cứ các điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho sự phát triển về thể chất cũng như tinh thần của cháu Hà Thị Hoài T, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hà Văn L không yêu cầu chị Lò Thị S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung: Chị Lò Thị S và anh Hà Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lò Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do vậy, quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị S được ly hôn với anh Hà Văn L.
2. Về con chung: Giao con chung là Hà Thị Hoài T, sinh ngày 10/9/2016 cho anh Hà Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị Lò Thị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hà Văn L không yêu chị Lò Thị S phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về chia tài sản chung: Anh Hà Văn L và chị Lò Thị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị Lò Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị Lò Thị S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: AA/2021/0001465 ngày 14/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên; - UBND xã Mường Khoa; huyện Tân Uyên. - Nguyên đơn; - Bị đơn; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |