vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Kim D. Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Kim D được ly hôn với anh Đào Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Hoàng Thị Kim Duyên và anh Đào Văn Hòa"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-02-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành, bà Hoàng Thị Bích Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 474/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Kim D, sinh năm 1997

Địa chỉ: Thôn T1, xã B, huyện L, tỉnh Khánh Hòa.

Nơi ở: 120/14 Nguyễn Thiện Th, phường T4, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa

- Bị đơn: Anh Đào Văn H, sinh năm 1995

Địa chỉ: Ấp 3, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Kim D trình bày:

- Về hôn nhân: Chị D và anh Đào Văn H tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn vào ngày 26-7-2019 tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Khánh Hòa và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại thành phố Nha Trang và hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Hiện nay anh H trở về nhà cha mẹ ruột tại xã Phú An để sinh sống. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Nay chị D nhận thấy không còn tình cảm, đời sống vợ chồng không còn kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh H

- Về nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là Đào Văn P2, sinh ngày 22-6-2019. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản: Chị D trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý số 474/2022/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 cho anh H. Anh H đã biết được việc chị D xin ly hôn nhưng anh H không có ý kiến trả lời theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh H nhưng anh H không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến trình bày.

Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D. Về hôn nhân: Cho chị D được ly hôn với anh H. Về con chung: Giao cho chị D trực tiếp nuôi con chung, tạm thời anh H chưa phải cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có tranh chấp. Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Bị đơn anh Đào Văn H có nơi cư trú tại xã Phú An, huyện Tân Phú nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Chị Hoàng Thị Kim D khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh H, tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách đương sự chị D là nguyên đơn và anh H là bị đơn, theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị D và anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Khánh Hòa và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 26-7-2019. Như vậy, hôn nhân của chị D, anh H là hợp pháp.

Trên cơ sở lời khai của đương sự, kế t quả xác minh về tình trạng hôn nhân thể hiện: Chị D yêu cầu ly hôn với anh H vì lý do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nên vợ chồng đã không còn tình cảm và không quan tâm, chăm sóc nhau nữa, vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2020 cho đến nay.

Qua xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị D, anh H thể hiện gia đình chị D, anh H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị D và anh H cũng đã không còn sống chung với nhau từ năm 2020 cho đến nay.

Xét thấy, chị D, anh H hiệ n nay đã không cò n số ng chung vớ i nhau , bản thân anh H đã đượ c Tò a á n tố ng đạ t hợ p lệ cá c văn bả n tố tụ ng nhưng anh H vẫ n không đế n tò a là m việ c, thể hiệ n anh H không mong muốn hò a giả i để vợ chồng cùng đoàn tụ số ng chung.

Như vậy, có căn cứ xác định chị D, anh H đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để chị D, anh H có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của chị D, cho chị D được ly hôn với anh H.

- Về nuôi con: Chị D và anh H có 01 người con chung là Đào Văn P2, sinh ngày 22-6-2019. Khi ly hôn chị D yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Đào Văn P2, sinh ngày 22-6-2019, tạm thời chưa yêu cầu anh H phải cấp dưỡng cho con.

Xét thấy, từ sau khi xảy ra mâu thuẫn vào năm 2020 cho đến nay thì cháu P2 do chị D trực tiếp nuôi dưỡng, bản thân chị D có trách nhiệm chăm sóc và nghề nghiệp thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi dưỡng con chung. Do đó, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung sau ly hôn của chị D là có căn cứ chấp nhận.

Từ các căn cứ trên, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, tránh sự xáo trộn đời sống tâm lý của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu P2 cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tạm thời anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị D không có yêu cầu.

- Về tài sản: Chị D trình bày không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung và không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Kim D.

- Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Kim D được ly hôn với anh Đào Văn H.

- Về nuôi con: Giao cho chị Hoàng Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Đào Văn P2, sinh ngày 22-6-2019, tạm thời anh H chưa phải cấp dưỡng cho con.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản: Phần tài sản chung và nợ chung của các đương sự sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

2. Về án phí: Chị Hoàng Thị Kim D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị D đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002844 ngày 17-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ