vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ vợ chồng: Chị Giáp Thị Nh được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H. Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đề cập giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giáp Thị Nh-Nguyễn Mạnh H-Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH
_____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07 tháng 6 năm 2023
V/v “Tr/c Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến và ông Nguyễn Thế

Sách

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thụ lý số 161/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Giáp Thị Nh, sinh năm 1976 (Vắng mặt)

HKTT: Khu phố X, phường Đại Xuân, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

- Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1966 (Vắng mặt)

HKTT: Khu phố X, phường Đại Xuân, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Không

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Giáp Thị Nh trình bày:

Chị và anh Nguyễn Mạnh H được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương ngày 04/9/1993 (AL). Trước khi cưới, anh chị được tự nguyện tìm hiểu và được đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới, anh chị về chung sống cùng nhau ngay. Tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc và sinh được 03 con chung. Sau khi chị sinh con trai út được khoảng 02 năm thì anh H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Chị cũng đã nói chuyện với anh H nhiều lần nhưng không có kết quả nên chị chỉ cố gắng làm việc để lo cho ba con chung. Từ năm 2006 đến nay, anh H vẫn công khai mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài và nhiều lần đánh và xúc phạm chị, không để yên cho chị làm ăn. Đến tháng 8/2022, hai con gái lớn của anh chị đã đi xây dựng gia đình riêng và con trai út đã trưởng thành và đi học đại học. Chị nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân như vậy nên đã chuyển cửa hàng ra đê thuộc khu phố L, phường Đại Xuân để buôn bán và ở đó. Mặc dù chị đã chuyển ra ngoài ở nhưng anh H vẫn đến đập phá, chửi bới, đe dọa và đánh chị làm chị rất hoang mang và lo sợ. Khi anh H có hành vi đập phá và chửi bới, đe dọa chị thì chị đã báo Công an phường Đại Xuân đến giải quyết, song anh H cũng không thay đổi. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng hiện sống ly thân và không còn khả năng đoàn tụ nên chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị sinh được 03 con chung là Nguyễn Thị H, sinh ngày 16/8/1995; Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1997 và Nguyễn Huy H, sinh ngày 02/3/2004. Hiện các con chung của anh chị đã trưởng thành nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án gửi giấy báo hợp lệ nhưng anh Nguyễn Mạnh H vắng mặt và không phối hợp để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương đã xác định được như sau:

Chị Giáp Thị Nh, sinh ngày 10/12/1976 và anh Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 01/6/1966 đăng ký kết hôn lại ngày 18/5/2009 tại UBND phường Đại Xuân, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Hiện anh chị đều có hộ khẩu thường trú tại khu phố X, phường Đại Xuân, thị xã Quế Võ. Trong thời gian chung sống, anh chị có phát sinh mâu thuẫn và đến cuối năm 2022, chị Nh đã thuê nhà ở khu phố L, phường Đại Xuân ở và bán hàng tại đó. Từ đầu năm 2023, chị Nh đã 02 lần thông báo đến Công an phường Đại Xuân liên quan đến việc anh H đã đến cửa hàng mà chị thuê ở thôn L đập phá và có hành vi đánh và chửi chị Nh. Lần 1, Công an đến giải quyết có phát hiện anh H đập làm méo cửa và đập vỡ 01 Camera trước cửa hàng của chị Nh. Lần 2, anh H đến cửa hàng nói chuyện để chị Nh về nhưng chị Nh không về nên giữa anh H và chị Nh xảy ra mâu thuẫn và anh H có tát chị Nh. Công an phường Đại Xuân đã tiến hành nhắc nhở và yêu cầu anh H về để hai bên không xảy ra mâu thuẫn tiếp.

Về con chung: Vợ chồng anh H, chị Nh sinh được 03 con chung là Nguyễn Thị H, sinh năm 1995, Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1997 và Nguyễn Huy H, sinh năm 2004. Hiện nay các con của anh H và chị Nh đã trưởng thành

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và tiếp cận công khai chứng cứ với anh H được. Tuy nhiên, chị Giáp Thị Nh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H.

Đại diện VKSND thị xã Quế Võ tham gia phiên toà nhận xét:

Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.

Nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 28; Điều 147, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử:

Về quan hệ vợ chồng: Chị Giáp Thị Nh được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H.

Về con chung: Do các con chung của anh chị đã trưởng thành nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Mạnh H đã được Tòa án gửi giấy báo hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt và chị Giáp Thị Nh có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị Giáp Thị Nh và anh Nguyễn Mạnh H tự nguyện tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, được UBND phường Đại Xuân cấp giấy chứng nhận kết hôn lại ngày 18/5/2009 theo quy định của pháp luật nên cần xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nh và anh H là hợp pháp. Anh, chị về chung sống cùng nhau từ năm 1993, những năm đầu cuộc sống hôn nhân hòa thuận và hạnh phúc, anh chị đã sinh được 03 con chung. Theo chị Nh, từ năm 2006 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị đã nhắc nhiều lần nhưng anh H không sửa đổi, song vì 03 con chung nên chị nhẫn nhịn và chịu khó làm ăn để nuôi dưỡng các con chung trưởng thành. Ngoài ra, trong cuộc sống hôn nhân, anh H đã nhiều lần đánh chửi và xúc phạm, đe dọa chị, chị nhẫn nhịn đến khi hai con gái đã lấy chồng, con trai đã trưởng thành nên chị nhận thấy không thể cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa và chị đã làm đơn ly hôn.

Mặc dù anh H không có lời khai tại Tòa án, nhưng qua lời khai của chị Nh và quá trình xác minh thực trạng hôn nhân và gia đình giữa anh H và chị Nh ở địa phương và được xác nhận thì thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị Nh đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, anh H nhiều lần có hành động xúc phạm đến danh dự, nhâm phẩm của chị Nh. Hiện tại anh chị đã sống ly thân, Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã báo gọi anh H nhiều lần nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt, cố tình trốn tránh nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình khi chị Nh có đơn yêu cầu ly hôn, anh H mặc nhiên không đến Tòa án để tiến hành hòa giải mà để sự việc diễn ra và không có biện pháp về đoàn tụ.

Xét mâu thuẫn vợ chồng của chị Nh và anh H là có thật trên thực tế, hiện vợ chồng đang sống ly thân và không còn khả năng đoàn tụ. Tại phiên tòa, chị Nh vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt và đề nghị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Nh là có cơ sở nên cần chấp nhận.

Về con chung: Qua xác minh tại địa phương và và lời khai của chi Nh xác nhận trong thời gian chung sống, anh chị đã sinh được 03 con chung Nguyễn Thị H, sinh ngày 16/8/1995; Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1997 và cháu Nguyễn Huy H, sinh ngày 02/3/2004. Hiện các con của anh chị đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản, công nợ, công sức: Quá trình giải quyết vụ án, chị Nh không đề nghị giải quyết phân chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét và giải quyết là phù hợp.

- Án phí: Chị Giáp Thị Nh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

- Về quan hệ vợ chồng: Chị Giáp Thị Nh được ly hôn anh Nguyễn Mạnh H.

- Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Chị Nh phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Nh đã nộp số tiền 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2023/0001351 ngày 10/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ