- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và Nuôi con chung khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày 23 tháng 3 năm 2023 V/v “Ly hôn” và “Nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trần Anh Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hoàng Thanh
2. Ông Nguyễn Kim Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Ninh Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 164/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn” và “Nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/02/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Hồng T, sinh năm 1982 (Có mặt);
- Bị đơn: Ông Đặng Anh K, sinh năm 1979 (Có mặt);
Cùng trú tại: Số 51 đường L, khu phố 1, thị trấn T, Huyện S, tỉnh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Huỳnh Thị Hồng T trình bày:
Bà và ông Đặng Anh K kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 03/5/2003 tại UBND thị trấn T, huyện S, tỉnh N theo Giấy đăng ký kết hôn số 13/2003. Bà và ông K chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông K ghen tương vô cớ, thường xuyên bạo hành, đánh đập bà. Vào năm 2010, bà và ông K đã ly thân một thời gian, sau đó bà tha thứ và quay lại với ông K. Tuy nhiên ông K vẫn không thay đổi và tiếp diễn việc ghen tuông, bạo hành, đánh đập bà. Những việc này khiến cho bà và ông K không còn tình cảm, thương yêu nhau và không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến cuối năm 2021, bà đã dọn ra ở riêng nhưng ông K vẫn thường xuyên đến chỗ làm việc của bà để đe dọa, uy hiếp tinh thần và đập phá vật dụng làm việc của bà. Do đó bà yêu cầu ly hôn với Đặng Anh K.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà và ông Đặng Anh K có 02 con chung là Đặng Huỳnh Gia H, sinh ngày 19/10/2003, hiện đang là sinh viên, đang sinh sống và học tập ở Thành phố Hồ Chí Minh và cháu Đặng Huỳnh Nhật KH, sinh ngày 14/3/2007 hiện nay đang sống với bà. Bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, trông nom, giáo dục, nuôi dưỡng con chung chưa đủ 18 tuổi là cháu Đặng Huỳnh Nhật KH và không yêu cầu ông Đặng Anh K cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung và tài sản chung trong vụ án này.
Về án phí: Bà đồng ý chịu toàn bộ án phí.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Huỳnh Thị Hồng T không thay đổi, bổ sung, không rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Đặng Anh K đã được Tòa án tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và các Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên ông Đặng Anh K vắng mặt không có lý do chính đáng và không gửi bản tự khai nên không có nội dung trình bày.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đặng Anh K có mặt. Ông K trình bày như sau:
Ông và bà Huỳnh Thị Hồng T kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 03/5/2003 tại UBND thị trấn T, huyện S, tỉnh N theo Giấy đăng ký kết hôn số 13/2003. Trong quá trình chung sống, ông thừa nhận giữa ông và bà T có nhiều mâu thuẫn. Ông thừa nhận có những lời nói nặng lời với bà T nhưng nguyên nhân xuất phát từ việc bà T nhiều lần đi sớm, về trễ, nhưng khi ông gặng hỏi thì bà T không trả lời nên khiến cho ông bức xúc. Đến cuối năm 2021, bà T dọn ra ngoài để đi làm nghề móng tay, ở riêng nhưng đó là do bà T dọn ra ngoài để đi làm, không phải là do ông và bà T ly thân. Ông cho rằng những mâu thuẫn giữa ông và bà T chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống vợ chồng, do đó ông không đồng ý ly hôn với bà Huỳnh Thị Hồng T. Tuy nhiên, nếu bà T vẫn tiếp tục yêu cầu ly hôn thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông và bà Huỳnh Thị Hồng T có 02 con chung là Đặng Huỳnh Gia H, sinh ngày 19/10/2003, hiện đang là sinh viên, đang sinh sống và học tập ở Thành phố Hồ Chí Minh và cháu Đặng Huỳnh Nhật KH, sinh ngày 14/3/2007 hiện nay đang đi học.
Ông đề nghị Tòa án căn cứ nguyện vọng của cháu Đặng Huỳnh Nhật KH để giải quyết về vấn đề con chung. Tuy nhiên ông yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đặng Huỳnh Nhật KH, sinh ngày 14/3/2007 và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.
Trường hợp Tòa án giao cháu Đặng Huỳnh Nhật KH, sinh ngày 14/3/2007 cho bà T trực tiếp trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục thì ông đề nghị không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Hện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, chị Huỳnh Thị Hồng T đã chấp hành và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, còn ông Đặng Anh K không chấp hành, tuy nhiên tại phiên tòa ông Đặng Anh K có mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Hồng T cụ thể:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Hồng T được ly hôn với ông Đặng Anh K.
+ Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Huỳnh Thị Hồng T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 con chung chưa đủ 18 tuổi là là cháu Đặng Huỳnh Nhật KH, sinh ngày 14/3/2007.
Ông Đặng Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Do bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Đặng Anh K không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Tòa án không xem xét trong vụ án này.
+ Về án phí: Bà Huỳnh Thị Hồng T phải chịu toàn bộ án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về quan hệ tranh chấp:
Bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Đặng Anh K có đăng ký kết hôn 03/5/2003 tại UBND thị trấn T, huyện S, tỉnh N theo Giấy đăng ký kết hôn số 13/2003. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Hồng T, quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn” và “Nuôi con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án:
Bị đơn ông Đặng Anh K có nơi cư trú là Khu phố 1, thị trấn T, huyện S, tỉnh N. Căn cứ khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
. Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Đặng Anh K có đăng ký kết hôn 03/5/2003 tại UBND thị trấn T, huyện S, tỉnh N theo Giấy đăng ký kết hôn số 13/2003. Căn cứ Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, giấy báo, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông K đều vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng và cũng không gửi bản trình bày cho Tòa án. Chỉ đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử, ông Đặng Anh K mới có mặt và không đồng ý ly hôn với bà T. Trong khi đó, từ khi bà T nộp đơn ly hôn đến nay, mặc dù bà T và ông K không còn sống chung nữa nhưng ông K vẫn không có bất kỳ hành động tích cực nào để thể hiện bản thân ông K muốn tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với bà T. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa ông K và bà T đã rất nghiêm trọng. Điều này cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án đã xác minh tại UBND thị trấn T, huyện S, tỉnh N (BL 22).
Từ các tài liệu, chứng cứ nói trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ cơ sở để kết luận:
Cuộc sống hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Đặng Anh K đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và không thể hàn gắn, chứng tỏ mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Hồng T về việc yêu cầu ly hôn với ông Đặng Anh K.
. Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng:
Bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Đặng Anh K có 02 con chung là Đặng Huỳnh Gia H, sinh ngày 19/10/2003, hiện đang là sinh viên, đang sinh sống và học tập ở Thành phố Hồ Chí Minh và cháu Đặng Huỳnh Nhật KH, sinh ngày 14/3/2007 hiện nay đang đi học.
Quá trình giải quyết vụ án, cháu Khôi có nguyện vọng được sống với bà Huỳnh Thị Hồng T.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Mặc dù ông Đặng Anh K có đủ điều kiện và có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung chưa đủ 18 tuổi là cháu Đặng Huỳnh Nhật KH, tuy nhiên hiện nay cháu Khôi đang sống với bà Huỳnh Thị Hồng T và đang được chăm sóc, giáo dục tốt. Do đó, để đảm bảo cho cháu Khôi có được điều kiện chăm sóc tốt nhất, phù hợp với nguyện vọng và phù hợp với sự phát triển lành mạnh nhất của cháu Khôi, Hội đồng xét xử giao cháu Đặng Huỳnh Nhật KH, sinh ngày 14/3/2007 cho bà Huỳnh Thị Hồng T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Ông Đặng Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Huỳnh Thị Hồng T không yêu cầu.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Đặng Anh K đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
. Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nói trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Hện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Hồng T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 8, 9, 51, 53, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Hồng T.
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Hồng T được ly hôn với ông Đặng Anh K.
2.2. Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:
Bà Huỳnh Thị Hồng T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 con chung chưa đủ 18 tuổi là cháu Đặng Huỳnh Nhật KH, sinh ngày 14/3/2007.
Ông Đặng Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Đặng Anh K không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét trong vụ án này.
2.4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Huỳnh Thị Hồng Tịnh đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005987 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bà Huỳnh Thị Hồng T và ông Đặng Anh K đều có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND Huyện Ninh Sơn; - Chi cục THADS Huyện Ninh Sơn; - Các đương sự; - UBND thị trấn T; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trần Anh Khoa |