- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn anh Kh"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Kh.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19 /2023/HNGĐ-ST Ngày 04- 4- 2023 V/v: ChịH xin ly hôn anh Kh |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Bà Ngô Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, thụ lý số: 16/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 2 năm 2023 về “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1973 ( xin vắng mặt)
ĐKHKTT: Thôn H , xã N, huyện C, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố X, phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1971 ( xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã Ng, huyện C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Vũ ThịH trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Kh ngày 07/01/1992. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Ng, huyện C, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại gia đình anh Kh ở thôn H , xã Ng, huyện C, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được cải thiện, tình cảm vợ chồng đã thực sự rạn nứt, không thể hàn gắn được. Vợ chồng sống ly thân, cắt đứt mọi quan hệ về tình cảm, kinh tế từ năm 2015 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Kh.
-Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Văn D , sinh ngày 01/1/1993 và Nguyễn Duy L , sinh ngày 29/5/1997. Các con chung đều đã trưởng thành nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
-Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Vũ Thị H không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa chị Vũ Thị H có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn Kh trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Vũ Thị H ngày 07/01/1992. Trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ng, huyện C, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Cưới xong vợ chồng về chung sống tại gia đình anh ở thôn H , xã Ng. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên bất đồng trong quan điểm sống dẫn đến cãi cọ, xô xát. Hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải cho vợ chồng về sống đoàn tụ nhưng vẫn không có kết quả, tình cảm vợ chồng đã thực sự rạn nứt, không thể hàn gắn được. Vợ chồng sống ly thân, cứt đứt mọi quan hệ về tình cảm, kinh tế từ năm 2015 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị H xin ly hôn, anh đồng ý.
- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Văn D , sinh ngày 01/1/1993 và Nguyễn Duy L , sinh ngày 29/5/1997. Các con chung đều đã trưởng thành nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Nguyễn Văn Kh không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Kh có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn, bị đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Kh
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vũ Thị H, bị đơn anh Nguyễn Văn Kh có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn Kh ngày 07/01/1992 trên cơ sở tự nguyện hợp pháp và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ng, huyện C. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau tại gia đình anh Kh ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng trong quan điểm sống dẫn đến cãi cọ, xô xát. Vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được cải thiện, tình cảm vợ chồng đã thực sự rạn nứt, không thể hàn gắn được. Phía chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Kh, phía anh Kh đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy chị H và anh Kh đã có khoảng thời gian sống ly thân kéo dài từ năm 2015 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc qua lại cho nhau; vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thể hàn gắn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H anh Kh đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Kh
Về con chung: Quá trình chung sống chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn Kh có hai con chung là Nguyễn Văn D , sinh ngày 01/1/1993 và Nguyễn Duy L , sinh ngày 29/5/1997. Các con chung đều đã trưởng thành nên chị H, anh Kh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn Kh không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0015016 ngày 06/2/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Kh.
2. Về án phí: Buộc chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0015016 ngày 06/2/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang; - Chi cục THADS huyện Lạng Giang; - Các đương sự; - UBND xã Ng; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Hà |