- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Ma Thị X; BĐ: Đàm Tiến T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ma Thị X về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày 10 tháng 4 năm 2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Long, bà H’Jel Mlô
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh, thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2023/TLST–HNGĐ ngày 13 tháng 2 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST–HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Ma Thị X, sinh năm 1998 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
Chỗ ở hiện nay: Buôn Đ, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
Bị đơn: Anh Đàm Tiến T, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Ma Thị X (Chị X) trình bày:
Chị với anh Đàm Tiến T (Anh T) là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và có 01 con chung. Trong quá trình chung sống, anh chị có quá nhiều mâu thuẫn, chửi bới lẫn nhau dẫn đến tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị và anh T đã sống ly thân, nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Đàm Tiến T trình bày :
Anh với chị X là vợ chồng và có 01 con chung. Mặc dù anh chị đã sống ly thân nhưng anh vẫn còn yêu thương vợ và mong muốn vợ chồng, con cái đoàn tụ với nhau. Anh không muốn ly hôn, nhưng chị X yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Sau khi ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị X nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Sổ hộ khẩu của Công an xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thể hiện :
Chị Ma Thị X, sinh năm 1998 và anh Đàm Tiến T, sinh năm 1993 có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Tại Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2018 ngày 11 tháng 4 năm 2018 của Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thể hiện nội dung:
Anh Đàm Tiến T, sinh năm 1993 và chị Ma Thị X, sinh năm 1998 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ngày 11 tháng 4 năm 2018.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát sau khi phát biểu ý kiến đã khẳng định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Chị X chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Anh T mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần hai. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X cho chị X ly hôn với anh T. Giao con chung cho chị X nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí và chi phí tố tụng, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
. Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thụ lý vụ án:
+ Chị X và anh T là vợ chồng (Có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật). Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung. Hiện nay, anh chị không còn sống chung với nhau. Chị X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con. Như vậy quan hệ pháp luật ở đây là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
+ Chị X khởi kiện và có nộp tiền tạm ứng án phí. Anh T có hộ khẩu thường trú ở thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, vì vậy Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào các Điều 35; 39; khoản 3 Điều 195 của BLTTDS để thụ lý vụ án.
. Về thủ tục tố tụng:
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được. Tòa đã triệu tập nhưng anh T vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Tòa án căn cứ Điều 227 của BLTTDS tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
. Về nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp:
Đối với yêu cầu khởi kiện của chị X, thì HĐXX xét thấy:
+ Về quan hệ hôn nhân:
Trong thời kỳ hôn nhân, anh T và chị X phát sinh mâu thuẫn dẫn đến anh chị đã sống ly thân. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị X đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với tình trạng hôn nhân, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, cho chị X ly hôn với anh T.
+ Về con chung:
Anh T, chị X có 01 con chung là cháu Đàm Quốc T, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2018. Hiện nay, cháu T dưới 18 tuổi. Chị X có nguyện vọng nuôi dưỡng và được anh T đồng ý. Do đó HĐXX giao cháu Đàm Quốc T, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2018 cho chị X trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi).
+ Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung:
Chị X và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí:
Vì đây là vụ án ly hôn, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, thì nguyên đơn – Chị X vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) với vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 51; 65; 81; 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ma Thị X về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Ma Thị X ly hôn với anh Đàm Tiến T.
+ Về con chung: Giao cháu Đàm Quốc T, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2018 cho chị Ma Thị X trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi).
Anh T có quyền, nghĩa vụ chăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, thì chị X có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.
2. Về án phí:
Chị Ma Thị X phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi thành án dân sự huyện K theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/ 0022139 ngày 07 tháng 2 năm 2023.
3. Về quyền và thời hạn kháng cáo:
Chị Ma Thị X có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Đàm Tiến T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện K; - Các đương sự ; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) ĐỖ VĂN DŨNG |