- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn,, nuôi con giữa Nguyễn Thị Thanh T và Hải Phúc Đ"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày 29/3/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Nguyên Kim.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Hoàng Văn Tâm;
- Ông: Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhi – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Phạm Viết Diệu Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 443/2023/TLST-HNGĐ, ngày 01/11/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/3/2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2000. Địa chỉ thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Hải Phúc Đ, sinh năm 1999. Địa chỉ thôn W, xã Hàm Mỹ, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt – Có đơn ngày 14/3/2024 xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hải Phúc Đ yêu thương nhau, sống chung từ năm 2017, sau đó đăng ký kết hôn vào ngày 25/3/2020 tại UBND xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, sau đó vợ chồng không hợp nhau; trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, thời gian từ cuối năm 2023 mâu thuẫn trầm trọng sống không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng kéo dài, không thể hàn gắn được, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2023 đến nay bà Nguyễn Thị Thanh T đã bỏ về nhà mẹ đẻ của bà sống ly thân với chồng từ cuối năm 2023. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện H giải quyết cho ly hôn với ông Hải Phúc Đ.
Về con chung: Vợ chồng bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hải Phúc Đ có 01 con chung tên Hải Minh Đ1, sinh này 05/7/2017 hiện nay cháu đang sống với ba cháu là ông Hải Phúc Đ chăm sóc nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết, sau khi ly hôn ông Hải Phúc Đ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung; không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hải Phúc Đ trình bày:
Về hôn nhân: Vợ chồng mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn được, đã ly thân không còn quan tâm đến nhau, không ai có thiện chí hành gắn tình cảm vợ chồng, ông Hải Phúc Đ đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hải Phúc Đ có 01 con chung tên Hải Minh Đ1, sinh này 05/7/2017 hiện nay cháu đang sống với ông Hải Phúc Đ là cha trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông Hải Phúc Đ yêu cầu Tòa án giải quyết sau khi ly hôn cháu Hải Minh Đ1 tiếp tục do ông Hải Phúc Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông Hải Phúc Đ không yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, nghĩa vụ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Hải Phúc Đ yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua lời khai của đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hải Phúc Đ có đăng ký kết hôn hợp pháp; quá trình chung sống mâu thuẫn đã trầm trọng vì vậy nguyên đơn đề nghị cho ly hôn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Hải Phúc Đ.
Con chung: Con chung 01 người tên Hải Minh Đ1, sinh này 05/7/2017, hiện nay cháu đang sống với cha là ông Hải Phúc Đ, bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hải Phúc Đ đều yêu cầu Tòa án giải quyết sau khi ly hôn cháu Hải Minh Đ1 tiếp tục do ông Hải Phúc Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp; không ai yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Các phần khác không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Tòa án nhận định:
- Đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T được gửi trực tiếp đến Tòa án, có hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Hải Phúc Đ. Người bị kiện có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện H đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc xét xử vắng mặt: Ông Hải Phúc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và nhận thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt, ông Hải Phúc Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Hải Phúc Đ là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hải Phúc Đ là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 25/3/2020 tại UBND xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận thể hiện tại Giấy chứng nhận kết hôn số 08 vì vậy được pháp luật bảo vệ. Bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày do mâu thuẫn vợ chồng bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hải Phúc Đ không còn sống chung với nhau nữa, mạnh ai nấy sống, nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Hải Phúc Đ; ông Hải Phúc Đ đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T. Cả hai ông, bà không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy tình trạng của vợ chồng bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Hải Phúc Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh T.
[4] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Hải Minh Đ1, sinh này 05/7/2017 hiện nay cháu đang sống với ông Hải Phúc Đ là cha trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, yêu cầu Tòa án giải quyết sau khi ly hôn cháu Hải Minh Đ1 tiếp tục do ông Hải Phúc Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nên được chấp nhận; không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứvào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Hải Phúc Đ.
2.Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thanh T, ông Hải Phúc Đ được quyền tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 01 con chung tên Hải Minh Đ1, sinh này 05/7/2017 đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Việc cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình và những người khác không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Việc Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có thể được thực hiện theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu tiền án phí sơ thẩm ly hôn là là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0019430 ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/3/2024). Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Nơi nhận:
| -VKSND huyện H; -Chi cục T.H.A.D.S huyện H; -UBND xã Tân Thuận -Các đương sự; -Lưu: hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Nguyên Kim |