- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn NĐ Đỗ Thị Minh H và BĐ Trương Công H1"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Đỗ Thị Minh H được ly hôn anh Trương Công H1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNHQUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/ 2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/7/2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh;
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Lương Khoa;
Ông Cổ Thế Chung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hiền- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023, về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đỗ Thị Minh H, sinh năm 1995; địa chỉ: Khu phố 6, thị trấn Gi, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị ; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Trương Công H1, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn V, xã Tr, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, chị Đỗ Thị Minh H trình bày: chị Đỗ Thị Minh H và anh Trương Công H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào ngày 16/02/2022. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung tại thôn V, xã Tr , Gio Linh, Quảng Trị một thời gian. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, bất đồng quan điểm sống, vì vậy chị H đã về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thương yêu nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đỗ Thị Minh H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Trương Công H1.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của anh Trương Công H1: Do anh Trương Công H1 không có ở nhà nên Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho bà Lê Thị L mẹ đẻ của anh Trương Công H1 nhưng anh H1 không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết vụ án , bà Lê Thị L đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thay cho anh Trương Công H1 và cam đoan thông báo ngay, đầy đủ các thông tin cho anh H1 được biết ngay sau khi nhận được văn bản tố tụng của Tòa án. Tuy nhiên, anh H1 không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân H1ện Gio Linh trình bày ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các bước đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên vi phạm quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Minh H và anh Trương Công H1 là hợp pháp. Mâu thuẩn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, hiện vợ chồng không sống cùng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận cho chị Đỗ Thị Minh H được ly hôn anh Trương Công H1.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: chị Đỗ Thị Minh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trương Công H1 có địa chỉ cư trú tại thôn V , xã Tr, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Nên Tòa án nhân dân huyện Gio Linh thụ lý giải quyết là đúng quy định theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Đỗ Thị Minh H vắng mặt tại phiên toà nhưng chị H đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã Tống đạt đầy đủ và hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Trương Công H1 thông qua mẹ đẻ của anh H1 nhưng anh H1 đều vắng mặt; không tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 11/7/2023 cũng như tại phiên tòa hôm nay.
Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Minh H và anh Trương Công H1 là hợp pháp, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị vào ngày 16/02/2022. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung chị Hồng và anh H1 đã không sống chung cùng nhau, chị H đã về sống với bố mẹ đẻ.
Biên bản xác minh ngày 16/6/2023 tại Trưởng thôn và Chi hội phụ nữ thôn V, xã Tr cho biết: địa phương không nắm bắt được mâu thuẩn vợ chồng anh Trương Công H1 và chị Đỗ Thị Minh H vì anh chị không sinh hoạt đoàn thể tại địa phương, chị H không sống tại thôn V, xã Tr. Nay chị H có đơn đề nghị xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
HĐXX thấy rằng: Tình cảm vợ chồng của chị H và anh H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Đỗ Thị Minh H được ly hôn anh Trương Công H1.
Về con chung: Quá trình chung sống chị H và anh H1 không có con chung
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: chị Đỗ Thị Minh H phải chịu án ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Đỗ Thị Minh H được ly hôn anh Trương Công H1.
2 . Về án phí: chị Đỗ Thị Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số CC/2021/0000159 ngày 20/3/2023 của Chị cục Thi hành án dân sự H1ện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị (chị H đã nộp đủ án phí).
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Gio Linh; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Gio Linh; - UBND xã Tr ( Nơi ĐKKH); - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Oanh |