- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiện ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H. Chị H được ly hôn với anh Hoàng Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20- 3- 2023 V/v: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quốc Hà
Các Hội thẩm nhân dân gồm có:
1. Ông Nguyễn Khắc Vũ
2. Ông Trần Hữu Linh
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Tiệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hà
Ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện EaH’leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 356/2022/TLST–HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn 4, xã CA, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Thôn 4, xã CA, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H anh B chung sống với nhau từ năm 2020 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CA, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Anh chị chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh B thường xuyên ăn chơi, nghiện ngập. Đến nay mâu thuẫn giữa anh chị là không thể hàn gắn. Vì vậy, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Về con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Hoàng Thị Cát T, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2021. Hiện cháu T còn nhỏ và đang ở với chị H, nguyện vọng của chị là được trực tiếp nuôi con đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh B vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của anh B. Đồng thời anh B không cung cấp, tài liệu chứng cứ gì.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Hoàng Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn B
Về con chung: Cần giao cháu Hoàng Thị Cát T, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2021 cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Việc Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Hoàng Văn B về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2021 tại tại UBND xã CA, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do cả hai không tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét thấy, mâu thuẫn hiện nay của chị H và anh B là trầm trọng, việc xác minh tình trạng hôn nhân tại nơi cư trú của anh B và chị H đã được ban tự quản xác nhận hiện nay, anh chị đã sống ly thân, không còn chung sống với nhau nữa. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau, anh chị có 01 con chung là cháu Hoàng Thị Cát T, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2021. Xét thấy cháu T còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) và đang được chị H trực tiếp chăm sóc nên cần tiếp tục giao cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Hoàng Văn B có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét.
Về án phí: Chị H là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 và khoản 3 Điều 81, các Điều 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H. Chị H được ly hôn với anh Hoàng Văn B.
Về con chung: Giao cháu Hoàng Thị Cát T, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2021 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Anh Hoàng Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét.
Về án phí: Chị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Viện KSND huyện Ea H’Leo; - Chi cục THADS huyện Ea H’Leo; - UBND xã CA, huyện EH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Bùi Quốc Hà |