- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân gia đình Mai Thị H - Trần Anh Tuấn"
- Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
- Căn cứ chính? Luật thi hành án dân sự Tuyên xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:19/2023/HNGĐ - ST Ngày: 05 - 7- 2023 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Tiến – Kiểm sát viên .
Ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị H, sinh năm 1997 ;
Cư trú tại: Xóm M, xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
( Có mặt tại phiên tòa)
2.Bị đơn: Anh Trần Anh T, sinh năm 1990;
Cư trú tại: Xóm M, xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
( Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng các tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Mai Thị H trình bày:
Chị và anh Trần Anh T kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.
Sau khi kết hôn chị và anh T chung sống cùng gia đình bố mẹ anh T tại xóm Xóm M, xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, chị cảm thấy cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, anh T không chăm lo vun vén cuộc sống cho vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Tháng 9/2022 chị và anh T sống ly thân, chị mang theo con về nhà bố mẹ đẻ của chị ở và chị đi tìm việc làm để mưu sinh cuộc sống, sau đó anh T lại đón con về. Từ khi vợ chồng sống ly thân anh T cũng không hỏi han gì đến chị. Nay chị xác định hôn nhân giữa chị và anh T đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nên chị khởi kiện ly hôn anh T, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Trần Quốc B, sinh ngày 17/10/2017 hiện con đang ở cùng anh T và ông bà nội.
Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đ đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập cho anh T đến Toà án viết bản tự khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải với chị H nhưng anh T không có mặt tại gia đình, do vậy cán bộ Tòa án đã tống đạt qua người thân( là bà Nguyễn Thị H - mẹ đẻ của anh T) theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo quy định. Do anh T không hợp tác giải quyết vụ án nên Tòa án không xác định được lời khai của anh T về các mối quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và cũng không tiến hành hòa giải được.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ tại địa phương nơi cư trú của anh T về tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T.
Bà Nguyễn Thị H- là mẹ đẻ của anh T cung cấp: Chị H và anh T kết hôn năm 2016 có đăng ký kết hôn tại UBND xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Xóm M, xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo bà được biết là do anh T ốm đau bệnh tật, không được khỏe mạnh, cuộc sống vợ chồng khó khăn, chị H không chịu được khổ nên đã bỏ nhà đi làm ở Công ty Sam Sung hơn 1 năm nay không trở về và cũng không quan tâm gì đến chồng con. Hiện nay chị H có đơn ly hôn anh T, anh T đã được biết và có quan điểm đồng ý ly hôn chị H, tuy nhiên anh T phải đi làm, công việc của anh T rất bận rộn, không đến Tòa án giải quyết với chị H được.
Về con chung: Vợ chồng anh T có 01 con chung là Trần Quốc B, sinh ngày 17/10/2017 hiện con đang ở cùng anh T và ông bà nội. Quan điểm của anh T theo bà được biết là anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh T nói không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về việc giao các văn bản của Tòa án tới anh T do bà trực tiếp nhận và đã giao cho anh T, anh T nói rằng anh bận công việc không đến Tòa án giải quyết được. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do anh T không tham gia giải quyết vụ án vì vậy Tòa án lập biên bản không hòa giải được theo quy định Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử công khai .
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn đã vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa xác định:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị H và anh Trần Anh T kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là hôn nhân hợp pháp. Theo chị H trình bày mâu thuẫn vợ chồng do anh T không quan tâm, chăm sóc vợ con. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, cả hai sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Mai Thị H, cho chị Mai Thị H được ly hôn với anh Trần Anh T.
+ Về con chung: Giao con chung là Trần Quốc B, sinh ngày 17/10/2017
cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị HĐXX không giải quyết vì chị H không có yêu cầu.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: Đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết do chị H không yêu cầu.
+ Án phí: Chị Mai Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước.
+ Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Mai Thị H với bị đơn anh Trần Anh T, cùng cư trú tại Xóm M, xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh Trần Anh T theo quy định Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp cho cá nhân, các văn bản tố tụng của Tòa án đã được tống đạt cho anh Trần anh T thông qua người thân ở cùng nhà và có cùng hộ khẩu nơi cư trú, tuy nhiên, anh Trần Anh T không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án; do vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được, phải đưa ra xét xử công khai. Tại phiên tòa lần thứ hai anh Trần Anh T vẫn vắng mặt không có lý do là không có ý thức chấp hành pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn - anh Trần Anh T theo quy định của pháp luật.
* Về nội dung vụ án:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị H và anh Trần Anh T kết hôn năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Lý do ly hôn theo chị H trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng gia đình của anh T tại xóm M, xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, khoảng năm 2022 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không chăm lo cho vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đến tháng 9/2022 do vợ chồng mâu thuẫn gay gắt, nên chị bỏ về bên ngoại ở, hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Từ khi chị H và anh T sống ly thân đến nay cả hai bên đều không quan tâm đến nhau. Nay chị H xác định không còn yêu thương anh T, tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh T để ổn định cuộc sống. Khi chị H gửi đơn ly hôn ra Tòa án, được Tòa án thụ lý hồ sơ và triệu tập các bên đến Tòa viết bản tự khai nhưng anh T không hợp tác giải quyết vụ án.
HĐXX xét thấy hôn nhân giữa chị H và anh T đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, cả hai bên không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà để mặc cho tình trạng vợ chồng sống ly thân, hai bên đều không quan tâm gì đến nhau là vi phạm Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình về tình nghĩa vợ chồng. Nội dung điều luật quy định: “Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng.
1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”
Như vậy xác định tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Mai Thị H, cho chị Mai Thị H được ly hôn anh Trần anh T là phù hợp với thực tế và Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Quốc B, sinh ngày 17/10/2017, tại phiên tòa chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại tuy anh T đang trực tiếp nuôi con nhưng do anh T không đến Tòa án trình bày quan điểm của mình về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không thu thập được lời khai, quan điểm của anh T về việc anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung hay không. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con HĐXX thấy cần giao cho chị Mai Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Trần Quốc B, sinh ngày 17/10/2017 đến khi con trưởng thành( đủ 18 tuổi) hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác.
* Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không giải quyết.
* Quyền đi lại thăm nom con chung: Anh T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng cho con chung;
[3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết phần tài sản chung, nợ chung. Anh T không hợp tác giải quyết vụ án nên không thu thập được ý kiến, quan điểm của anh T về tài sản chung vợ chồng có hay không nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án ly hôn này. Khi các đương sự có yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác, kèm theo các tài liệu chứng cứ để chứng minh.
[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Mai Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước.
[5]. Quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 482, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Mai Thị H, cho chị Mai Thị H được ly hôn với anhTrần Anh T. Quan hệ hôn nhân giữa chị Mai Thị H và anh Trần Anh T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung Trần Quốc B, sinh ngày 17/10/2017 cho chị Mai Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác.
* Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu nên HĐXX không giải quyết phần cấp dưỡng nuôi con.
* Quyền đi lại thăm nom con chung: Anh Trần Anh T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng cho con chung;
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không giải quyết.
4. Án phí: Chị Mai Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003753 ngày 23/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Mai Thị H, vắng mặt anhTrần Anh T. Báo cho chị H biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Trần Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - UBND nơi ĐKKH năm 2016, xã ML, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, bộ phận HNGĐ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ĐÃ KÝ Mai Thị Hồng Thái |