vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn G.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Anh T, sinh ngày 02/9/2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - G"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn G.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng

- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Việt Hưng

2. Ông: Nguyễn Văn Mười

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tinh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND huyện Đại Từ tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 127/2022/TLST - HNGĐ, ngày 10/10/2022 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐST - HNGĐ, ngày 07/4/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1986

Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1981

Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt chị H, vắng mặt anh G)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Lương Thị H trình bày: Tôi và anh Nguyễn Văn G kết hôn năm 2009. Trước khi cưới có được tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi cưới vợ chồng về sống cùng với gia đình nhà chồng tại xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2013 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 tới nay, không còn quan tâm gì tới nhau. Đến nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Tôi và anh G có 01 con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 02/9/2012. Hiện cháu đang sinh sống cùng tôi. Khi ly hôn, tôi có nguyện vọng nuôi con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tôi không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn G trình bày: Tôi và chị Lương Thị H kết hôn năm 2009, trước khi cưới có được tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Sau khi cưới vợ chồng về sống chung với gia đình nhà chồng, được một thời gian thì vợ chồng ra ở riêng. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng có cãi cọ nhau, sống không hợp nhau, chị H tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống từ tháng 9/2022 cho tới nay. Tôi có xuống đón chị H về, nhưng chị H không về. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2022 cho tới nay. Đến nay tôi xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, tôi không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Tôi và chị H có 01 con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 02/9/2012. Hiện cháu đang sinh sống cùng chị H. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn, tôi nhất trí để chị H trực tiếp nuôi con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đại diện Viện kiếm sát nhất trí và không ý kiến gì.

Về nội dung vụ án: Áp dụng các Điều 28, 143, 147, 227 và Điều 228 BLTTDS; Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Cho chị Lương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn G.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Anh T, sinh ngày 02/9/2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không xem xét; anh G được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung.

- Về tài sản: Không xem xét.

- Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên anh Giang vắng mặt không có lý do, do đó vụ án không thể tiến hành hòa giải được nên phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của đương sự, của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Nguyễn Văn G cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn G vắng mặt lần thứ hai không lý do, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Tòa án căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh G là đúng quy định của pháp luật.

. Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Lương Thị H và anh Nguyễn Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T năm 2009 nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Phía chị H xác định năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp cách sống của nhau. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022 cho tới nay. Đến nay, chị H xác định không còn tình cảm đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Phía anh G xác định vợ chồng có mâu thuẫn với nhau, nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng có xảy ra cãi cọ và không hợp nhau, đến nay phía anh G xác định vẫn còn tình cảm và không đồng ý ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị H và anh G đã mâu thuẫn trầm trọng, anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 tới nay và chấm dứt mọi quan hệ. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh G đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó xét đề nghị xin ly hôn của chị H là có căn cứ cần áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đề nghị của chị H, cho chị Lương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn G là phù hợp.

. Về con chung: Quá trình giải quyết chị H và anh G đều xác định vợ chồng có 01 con chung là: Nguyễn Anh T, sinh ngày 02/9/2012.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H có nguyện vọng nuôi con chung, phía anh G cũng nhất trí để chị H nuôi dưỡng con chung. Ý kiến của cháu T cũng có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do đó HĐXX xét thấy cần giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị H, anh G không yêu cầu nên HĐXX không xem xét. Về quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung: Anh G được quyền đi lại thăm nom chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

. Về tài sản: Quá trình giải quyết chị H, anh G không có đề nghị giải quyết về phần tài sản nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.

. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh G được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 143, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị H, cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn G.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Anh T, sinh ngày 02/9/2012 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung khi ly hôn: Anh G được quyền đi lại thăm nom chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

3. Về tài sản: Không xem xét.

4. Về án phí. Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004008 ngày 10/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ.

Báo cho chị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh G được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ