vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công Kh.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công Kh có ba con chung là Nguyễn Thị Hồng Th, sinh này 14/12/2001; Nguyễn Thị Thảo L sinh ngày 05/02/2005; Nguyễn Ngọc Bảo Q sinh ngày 29/10/2011. Hiện hai cháu L và Th đã trường thành, chỉ còn cháu Q là còn nhỏ. Giao cháu Q được chị H tiếp tục nuôi…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Nguyễn Thị H - Nguyễn Công Kh ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14-04-2023
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Trọng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hạnh.

2. Bà Võ Lệ Huyền.

-Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 512/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983.

Hộ khẩu thường trú: Thôn 1, Nhân Khang, Ly Nhân, Hà Nam.

Chổ ở hiện nay: Tổ 3, ấp VB, xã Bình Giã, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Bị đơn: Anh Nguyễn Công Kh, sinh năm 1979.

Hộ khẩu thường trú: Thôn 1, Nhân Khang, Ly Nhân, Hà Nam.

Chổ ở hiện nay: Tổ 3, ấp VB, xã Bình Giã, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

(Chị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, anh Kh vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Sau khi tìm hiểu một thời gian chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công Kh thì về sống chung với nhau trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 30 tháng 01 năm 2001 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Nhân Khang, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận và hạnh phúc đến cuối năm 2021 thì thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường hay cải vả. Mặc dù chị H cố tình nhẫn nhịn để gia đình hạnh cùng nhau nuôi dạy con không những không có kết quả, mà càng ngày cuộc sống vợ chồng ngày càng trầm trong hơn. Vợ chồng cũng đã khởi kiện ly hôn từ năm 2020, trong thời gian Tòa án giải quyết thì anh Kh nhiều lần yêu chị H về sống chung để anh Kh đi làm phụ giúp chị H lo cho con cái. Nhưng khi về anh Kh vẫn không thực hiện lời hứa mà lại về lấy tiền của vợ chồng ra ngân hàng gửi và đứng tên anh Kh một mình. Thái độ của anh Kh như vậy là nhằm chiếm đoạt tài sản. Chị H đã nhiều lần yêu cầu anh Kh đưa lại cho chị dể lo cho gia đình, nhưng anh Kh không đưa. Từ đó anh Kh đi làm không đưa tiền chi chị H lo cho con cái và già đính mà chị H phải tự lo buôn bán trang trải việc gia đình. Từ thái độ của anh Kh như vậy làm mất niềm tin, chị H nghi ngời anh Kh có người phụ nữ khác ở bên ngoài. Từ đó vợ chồng hay xảy ra cãi vả nên làm cho chị H buồn chán, sống im lặng.

Do mâu thuẫn không thể hòa giải được nên từ năm 2021 chị H bỏ riêng sinh sống và vợ chồng ly thân từ đó. Sau đó được hai gia đình khuyên nhủ nhưng vẫn không cải thiện được.

Trong thời gian sống ly thân cho đến nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung của vợ chồng không thể hòa hợp, vợ chồng mâu thuẫn hoài ảnh hưởng đến tâm sinh lý của con cái, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Do vậy, chị H đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Công Kh

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công Kh có ba con chung là Nguyễn Thị Hồng Th, sinh này 14/12/2001; Nguyễn Thị Thảo L sinh ngày 05/02/2005; Nguyễn Ngọc Bảo Q sinh ngày 29/10/2011. Hiện hai cháu L và Th đã trường thành, chỉ còn cháu Q là còn nhỏ chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Q và không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết

Đối với anh Nguyễn Công Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do vì vậy không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công Kh có ba con chung là Nguyễn Thị Hồng Th, sinh này 14/12/2001; Nguyễn Thị Thảo L sinh ngày 05/02/2005; Nguyễn Ngọc Bảo Q sinh ngày 29/10/2011. Hiện hai cháu L và Th đã trường thành, chỉ còn cháu Q là còn nhỏ.

Do cháu Q được chị H nuôi dưỡng từ khi vợ chồng ly thân, và cháu phát triển tốt . Vì vậy giao cháu Q cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Nguyễn Công Kh cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị H và anh Kh sống chung với nhau có đăng ký kết hôn, nay chị H yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của anh Kh ở xã Bình Giã, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị H vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị H.

Anh Kh đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt anh Kh.

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị H và anh Kh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 01 năm 2001 tại UBND xã Nhân Khang, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, từ cuối năm 2021 thì phát sinh mẫu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường hay cải vả. Mặc dù chị H cố tình nhẫn nhịn để gia đình hạnh cùng nhau nuôi dạy con không những không có kết quả, mà càng ngày cuộc sống vợ chồng ngày càng trầm trong hơn. Vợ chồng cũng đã khởi kiện ly hôn từ năm 2020, trong thời gian Tòa án giải quyết thì anh Kh nhiều lần yêu chị H về sống chung để anh Kh đi làm phụ giúp chị H lo cho con cái. Nhưng khi về anh Kh vẫn không thực hiện lời hứa mà lại về lấy tiền của vợ chồng ra ngân hàng gửi và đứng tên anh Kh một mình. Chị H đã nhiều lần yêu cầu anh Kh đưa lại cho chị để lo cho gia đình, nhưng anh Kh không đưa. Anh Kh cũng không cùng chị H lo cho con cái và già đính mà để chị H phải tự lo buôn bán trang trải việc gia đình. Từ những hành động đó cho chị H cho rằng anh Kh có người phụ nữ khác ở bên ngoài, từ đó vợ chồng mất niềm tin của nhau, nên vợ chồng thường xảy ra cãi vả dẫn đến chị H buồn chán, sống im lặng.

Trong thời gian sống ly thân gia đình hai bên có khuyên nhũ, hàn gắn nhưng không thành, tình càm vợ chồng càng phai nhạt. tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trở lên căng thẳng trầm trọng hơn. Cho đến nay căng thẳng vẫn không giảm và hòa hợp được.

Từ những mâu thuẫn kéo dài, thường xảy ra cãi vã xung đột nên dẫn đến vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng trở nên buồn chán, và ngày càng căng thẳng làm cho vợ chồng không còn muốn gần gũi. Do mâu thuẫn kéo dài mà không được xoa dịu và hàn gắn nên làm cho mâu thuẫn ngày trầm trọng hơn.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của chị H, Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Kh để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân, nhưng anh Kh vẫn cố tình không đến, không lý do, điều đó chứng tỏ anh Kh không có thiện chí để đoàn tụ với chị H để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nuôi dạy con chung. Ngoài ra theo kết quả xác minh thì mâu thuẫn giữa chị H và anh Kh là có thật. Từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay đã trải qua một thời gian dài và đã ly thân nhưng vợ chồng cũng không có biện pháp gì để hàn gắn lại hạnh phúc của gia đình.

Như vậy, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Kh ngày càng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn với anh Kh là có căn cứ.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công Kh có ba con chung là Nguyễn Thị Hồng Th, sinh này 14/12/2001; Nguyễn Thị Thảo L sinh ngày 05/02/2005; Nguyễn Ngọc Bảo Q sinh ngày 29/10/2011. Hiện hai cháu L và Th đã trường thành, chỉ còn cháu Q là còn nhỏ. Chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q, không yêu cầu cấp dưỡng.

Do cháu Q được chị H nuôi dưỡng từ khi vợ chồng ly thân, và cháu phát triển tốt. Vì vậy giao cháu Q cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Nguyễn Công Kh cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chị Huệ phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56, khoản 3 điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công Kh.

2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Công Kh có ba con chung là Nguyễn Thị Hồng Th, sinh này 14/12/2001; Nguyễn Thị Thảo L sinh ngày 05/02/2005; Nguyễn Ngọc Bảo Q sinh ngày 29/10/2011. Hiện hai cháu L và Th đã trường thành, chỉ còn cháu Q là còn nhỏ.

Giao cháu Q được chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hu không yêu cầu anh Nguyễn Công Kh cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Công K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008320 ngày 28 tháng 10 năm 2022; Chị Nguyễn Thị Huệ nộp xong án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14-4-2023) các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xin xét xử phúc thẩm, đối với các đương sự vắng mặt được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ