vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân C. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân C chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con: Giao cháu Nguyễn Gia K sinh ngày 09/6/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị T - Nguyễn Xuân C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 5 - 2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thu Hương

2. Bà Lê Giang Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Tuyền – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2023/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXX-ST ngày 14 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân C - Vắng mặt lần thứ hai không có lý do

Cùng địa chỉ: thị trấn N, huyện B, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân C đăng ký kết hôn ngày 09 tháng 4 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Nông trường Phong Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách hai vợ chồng không hợp, bất đồng trong cuộc sống và việc làm ăn kinh tến dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, không thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình và bạn bè hoà giải nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai, không có quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Đến nay chị T xét thấy tình cảm giữa chị và anh C không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vì vậy, chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân C.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Khánh, sinh ngày 09/6/2020. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Khánh đến đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị Nguyễn Thị T buôn bán tự do thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 10.000.000đồng.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Xuân C trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị T như chị T đã trình bày là đúng. Sau khi xảy ra mâu thuẫn anh và chị T đã sống ly thân, không còn tình cảm với nhau nữa. Đến nay chị T có đơn ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị T có 01 người con chung như chị T đã trình bày là đúng. Khi ly hôn, anh đồng ý để chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Khánh đến đủ 18 tuổi, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về mối quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình, theo khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Về thủ tục tố tung: Quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nguyễn Xuân C theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh C không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại Khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Xuân C mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Chị Nguyễn Thị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân C.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T trên cơ sở căn cứ lời khai của đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân C đăng ký kết hôn ngày 9 tháng 4 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Nông trường Phong Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Do vậy, xác định hôn nhân giữa chị T và anh C là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Xác định lời khai của chị Nguyễn Thị T về mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ như: Đơn xin xác nhận của chị Nguyễn Thị T ngày 27/02/2023; Lời khai của anh Nguyễn Xuân C cũng xác nhận “Sau khi kết hôn chị và anh Kiên sống hạnh phúc đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Sau khi xảy ra mâu thuẫn anh và chị T đã sống ly thân, không còn tình cảm với nhau nữa. Chị T xin ly hôn anh C cũng đồng ý ly hôn”. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh C đã kéo dài, thời gian sống ly thân đã lâu, hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân C là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh C có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia K, sinh ngày 09/6/2020. Khi ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Khánh đến đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai anh C cũng đồng ý để chị T nuôi cháu Khánh đến đủ 18 tuổi.

Xét yêu cầu xin nuôi con của chị Nguyễn Thị T thấy: Hiện nay chị T có mức thu nhập ổn định hàng tháng là 10.000.000đồng, có thời gian, đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Nguyễn Gia Khánh, cháu Nguyễn Gia Khánh sinh ngày 09/6/2020 còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, về nguyên tắc con dưới 36 tháng tuổi giao cho người mẹ nuôi dưỡng. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị Nguyễn Thị T và giao cháu Nguyễn Gia Khánh sinh ngày 09/6/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân C. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Xuân C chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con: Giao cháu Nguyễn Gia K sinh ngày 09/6/2020 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Xuân C không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Xuân C có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003230 ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ