- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị R- Hoàng Văn B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày 27-7-2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét sử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Công Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Thúy Trinh.
Bà Dương Thị Hồng Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về việc “Không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXX-ST ngày 10 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị R, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
Bị đơn: Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Dương Thị R trình bày:
Chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B tổ chức lễ cưới theo tập quán địa phương và về chung sống với nhau vào ngày 15/11/1998 (âm lịch), nhưng do không hiểu biết pháp luật nên không đi đăng ký kết hôn. Trước khi cưới, chị R và anh B không được tìm hiểu mà do hai bên gia đình mai mối nhưng vẫn tự nguyện đến với nhau không bị ai ép buộc. Sau khi tổ chức lễ cưới, chị R và anh B sống cùng bố mẹ chồng một thời gian thì ra ở riêng tại Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, không xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2013, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về việc làm ăn, thường xuyên cãi nhau, không thể hòa hợp với nhau. Chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Dương Thị R yêu cầu được ly hôn, không công nhận vợ chồng với anh Hoàng Văn B.
Về con chung: Có 01 người con chung tên là Hoàng Văn T, sinh ngày 14/7/2000, hiện nay con chung đã trưởng thành, chị Dương Thị R không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Hoàng Văn B trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa trình bày:
Anh Hoàng Văn B và chị Dương Thị R tổ chức lễ cưới theo tập quán địa phương vào ngày 15/11/1998 (âm lịch), nhưng do không hiểu biết về pháp luật nên không đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã. Sau khi tổ chức lễ cưới anh B và chị R sống chung với bố mẹ được khoảng 02 năm thì ra ở riêng tại Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình chung sống anh B và chị R không phát sinh mâu thuẫn gì, vẫn sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2011, chị R bắt đầu đi làm công ty, từ đó ít về nhà, chỉ về qua thăm nhà sau đó về nhà mẹ đẻ ở chứ không ở lại nhà. Tết năm 2023, chị R vẫn về nhà nhưng không ở lại mà về nhà mẹ đẻ ở. Anh Hoàng Văn B và chị Dương Thị R đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Hoàng Văn B đồng ý ly hôn, không công nhận vợ chồng với chị Dương Thị R.
Về con chung: Có 01 người con chung tên Hoàng Văn T, sinh ngày 14/7/2000, nay đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không công nhận chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B là vợ chồng. Về con chung: Có 01 người con chung tên Hoàng Văn T, sinh ngày 14/7/2000, nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết; về nợ chung: Không có.
Về án phí: Nguyên đơn chị Dương Thị R phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Dương Thị R khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hoàng Văn B có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã T, huyện B. Do đó, căn cứ Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, Thông báo mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B chung sống với nhau và có tổ chức cưới hỏi theo tập quán của địa phương từ năm 1998. Chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B đều thống nhất cho rằng vợ chồng anh chị chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B là bất hợp pháp, không được pháp luật công nhận. Mặc dù chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B không có đăng ký kết hôn nhưng đã chung sống với nhau như vợ chồng trong nhiều năm. Quá trình chung sống đến năm 2013 hai anh chị có xảy ra mâu thuẫn và cũng đã sống ly thân từ đầu năm 2015 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa, tại phiên tòa chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B cũng xác định không còn tình cảm để tiếp tục chung sống. Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B. Kết quả xác minh, đại diện Ủy ban nhân dân xã T, huyện B cho biết qua kiểm tra sổ Đăng ký kết hôn lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B từ trước đến nay, không có trường hợp đăng ký kết hôn của chị Dương Thị R với anh Hoàng Văn B. Do chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B sống chung với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn theo quy định và đã sinh được một người con chung. Do vậy, yêu cầu của chị Dương Thị R là có căn cứ chấp nhận nên Hội đồng xét xử không công nhận chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B là vợ chồng.
Theo khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày luật này có hiệu lực pháp luật thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội quy định: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003; ... Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định trên và khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 1986, không công nhận chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B là vợ chồng.
Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án thu thập tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B đều trình bày có một người con chung tên là Hoàng Văn T, sinh ngày 14/7/2000. Khi ly hôn chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B đều không yêu cầu Tòa án giải quyết vì con chung đã đến tuổi trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B trình bày là không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B trình bày là không có. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Dương Thị R phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1, Điều 35; khoản 1, Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 24; điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B là vợ chồng.
2. Về con chung: Có 01 người con chung tên là Hoàng Văn T, sinh ngày 14/7/2000, đã trưởng thành chị Dương Thị R và anh Hoàng Văn B không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Chị Dương Thị R phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị Dương Thị R đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2021/0002904 ngày 27/03/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Dương Thị R, bị đơn anh Hoàng Văn B có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Bắc Sơn; - UBND xã T, huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Đức |