- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quy định pháp luật:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-PT Ngày 27/11/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Hà Viết Toàn và bà Đinh Thị Như Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú Biển - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: ông Hoàng Văn Hạnh-Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2023/TLPT - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 18/2023/HNGĐ–ST ngày 31/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 23/2023/QĐ-PT ngày 10/11/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Chu Minh C, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Thôn CV, xã D, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)
- Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Thôn L, xã J, huyện Mang Y, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)
- Người kháng cáo: bị đơn chị Phạm Thị H
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1 Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Chu Minh C trình bày:
Anh và chị Phạm Thị H tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K’Dang, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai vào ngày 07/01/2019. Trong thời gian chung sống, vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hiện anh chị đã ly thân được 03 năm. Nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc và không thể kéo dài nên anh Chu Minh C đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị H.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Chu Phạm Duy N– sinh ngày: 04/9/2019, anh C đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu. Ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Nhất và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa giải quyết.
1.2 Tại các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Phạm Thị H trình bày:
Chị thống nhất việc kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như anh C trình bày. Nay chị nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, sau nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh C yêu cầu ly hôn thì chị đồng ý.
Về con chung: Chị thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên Chu Phạm Duy N – sinh ngày: 04/9/2019, anh C đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Nhất và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
2. Quyết định của tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 18/2023/HNGĐ–ST ngày 31/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã quyết định như sau:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 226, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Chu Minh C được ly hôn với chị Phạm Thị H.
2. Về con chung: Giao con chung là Chu Phạm Duy N – sinh ngày: 04/9/2019 cho anh Chu Minh C tiếp tục nuôi dưỡng khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Quyền và nghĩa vụ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
- Ngày 05/9/2023 bị đơn chị Phạm Thị H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết giao cháu Chu Phạm Duy N – sinh ngày: 04/9/2019 cho chị nuôi dưỡng và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- Nguyên đơn anh Chu Minh C không kháng cáo.
- Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến Phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn anh Chu Minh C không rút yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị đơn chị Phạm Thị H yêu cầu giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Anh Chu Minh C và chị Phạm Thị H tự nguyện thỏa thuận hòa giải được với nhau về nội dung vụ án như sau:
Về con chung: Trường hợp Tòa giao con chung là cháu Chu Phạm Duy N – sinh ngày: 04/9/2019 cho anh Chu Minh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên cho đến khi con đã thành niên và có khả năng lao động được hoặc con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Anh C không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con;
Chị H có quyền đi lại thăm nom con ít nhất 01 lần trên 01 tuần, không ai được cản trở; trường hợp chị H muốn chở con đi chơi, về nhà mình thì phải có sự đồng ý của cháu N; khi cháu N bị bệnh chị H phải có nghĩa vụ cùng với anh C chăm sóc và đưa cháu N đi bệnh viện thăm khám, chữa trị khi anh C có yêu cầu.
- Kiểm sát viên có quan điểm: Anh Chu Minh C và chị Phạm Thị H tự nguyện thỏa thuận hòa giải được với nhau về giải quyết nội dung vụ án, phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; xác định đúng mối quan hệ tranh chấp; quá trình giải quyết vụ án đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định và đúng phạm vi kháng cáo.
Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân Tòa sơ thẩm tuyên xử cho anh Chu Minh C được ly hôn với chị Phạm Thị H. Các bên đương sự không kháng cáo về nội dung này nên không xem xét.
- Xét kháng cáo của chị Phạm Thị H yêu cầu được nuôi con chung là cháu Chu Phạm Duy Nhất:
Giữa anh C và chị H chỉ có 01 người con chung là cháu Chu Phạm Duy Nhất – sinh ngày: 04/9/2019 nguyện vọng nuôi dưỡng con chung của hai bên là chính đáng. Tuy nhiên khi quyết định người trực tiếp nuôi con cần xem xét đến quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên.
Xét thấy sau khi anh chị ly thân, cháu N được anh C cùng ông bà nội chăm sóc và nuôi dưỡng từ lúc cháu được 05 tháng tuổi cho đến nay, cuộc sống của cháu đang ổn định, chị H không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh anh C không đảm bảo việc nuôi con. Hiện hai bên đều đang ở nhờ nhà cha mẹ, chưa có nhà riêng, anh C làm nhân viên tại Xí nghiệp chế biến cao su D, huyện Đ có công việc, và thu nhập ổn định hàng tháng, còn chị H bán cà phê tại nhà thuộc khu vực xã J nên thu nhập không ổn định bằng. Vì vậy, để bảo đảm sự ổn định về tâm sinh lý, đời sống của cháu Nhất Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tiếp tục giao con chung cho anh C nuôi dưỡng là có căn cứ.
Tại phiên tòa anh C và chị H tự nguyện thỏa thuận được thời gian thăm gặp con nên công nhận sự tự nguyện này: Chị H có quyền đi lại thăm nom con ít nhất 01 lần trên 01 tuần, không ai được cản trở; trường hợp chị H muốn chở con đi chơi, về nhà mình thì phải có sự đồng ý của cháu N; khi cháu N bị bệnh chị H phải có nghĩa vụ cùng với anh C chăm sóc và đưa cháu N đi bệnh viện thăm khám, chữa trị khi anh C có yêu cầu.
. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên chị Phạm Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về quy định pháp luật:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 147; khoản 2 Điều 148 và Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án
2. Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 18/2023/HNGĐ–ST ngày 31/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Mang Y, tỉnh Gia Lai về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa nguyên đơn anh Chu Minh C và bị đơn chị Phạm Thị H.
Về con chung: Giao con chung là cháu Chu Phạm Duy N – sinh ngày: 04/9/2019 cho anh Chu Minh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên cho đến khi con đã thành niên và có khả năng lao động được hoặc con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Anh C không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con;
Chị H có quyền đi lại thăm nom con ít nhất 01 lần trên 01 tuần, không ai được cản trở; trường hợp chị H muốn chở con đi chơi, về nhà mình thì phải có sự đồng ý của cháu N; khi cháu N bị bệnh chị H phải có nghĩa vụ cùng với anh C chăm sóc và đưa cháu N đi bệnh viện thăm khám, chữa trị khi anh C có yêu cầu
Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
3. Hoàn trả cho chị Phạm Thị H 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã tạm nộp tại biên lai số: 0010958 ngày 26/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Y, tỉnh Gia Lai. .
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND huyện Mang Y; - Chi cục THADS huyện Mang Y; - Đương sự; - Lưu Tòa, lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Sỹ |