- Tranh chấp gì? án hành chính — "hủy GCNQSDĐ"
- Tòa quyết gì? 1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số CN270471 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông cấp ngày 16-5-2018 cho ông Hà Bình N và bà Vi Thị H, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ chỉnh lý biến động đối với bà Phạm Thị Thu N ngày 20-01-2021, chỉnh lý bi…
- Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 348 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮ K NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HC-ST Ngày 03-8-2023 V/v khiế u kiện huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hộ i đồ ng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông K’Tiêng
Các Hộ i thẩ m nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trung và ông Vũ Xuân Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễ n Minh Tú là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà : Ông Dương Phúc Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩ m công khai vụ án hành chính thụ lý số: 100/2022/TLST-HC ngày 30 tháng 12 năm 2022 về việc “Khiế u kiệ n huỷ Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t” , theo Thông báo mở lại phiên tòa số: 128/TB-TA/HC ngày 26-7-2023, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Đà o Văn H (Vắng mặt) và bà Nguyễn Thị L (Có mặt); đị a chỉ : Thôn T, xã Đ, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông.
2. Người bị kiện:
2.1. Sở Tài nguyên và Môi tr ường tỉ nh Đắ k Nông ; địa chỉ: Đường 23/3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Chí T; chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông – Có đơn xét xử vắng mặt.
2.2. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông; địa chỉ: Đường 23/3, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Ninh Đức T; chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông – Có đơn xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trầ n Văn D (Có mặt) và bà Dương Thị Mỹ H (Vắng mặt); đị a chỉ : Thôn 4, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
4. Người làm chứng: Ông Hà Bình N; địa chỉ: Bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘ I DUNG VỤ Á N
1. Theo đơn khởi kiện ngày 30-6-2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, ngườ i khở i kiệ n ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L trình bày: Năm 2001 vợ chồng ông H và bà L nhận chuyển nhượng thửa đất diện tích khoảng 2.000m2, tọa lạc tại bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông của ông Phạm Sỹ S. Từ khi nhận chuyển nhượng vợ chồng ông H và bà L canh tác, sử dụng đất ổn định, không tranh chấp, có ranh giới rõ ràng với các hộ liền kề. Tháng 9-2021, ông H và bà L làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) thì phát hiện đất ông H và bà L đang sử dụng bị cấp chồng GCNQSDĐ số CN270471 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông cấp ngày 16-5-2018 cho ông Hà Bình N và bà Vi Thị H tại thửa đất số 69, tờ bản đồ số 31, diện tích 1570m2. Ngày 20-01-2021 ông Hà Bình N và bà Vi Thị H đã chuyển nhượng lại thửa đất cho bà Phạm Thị Thu N. Ngày 08-3-2022 bà Phạm Thị Thu N chuyển nhượng lại cho ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ chỉnh lý biến động tại trang 4 của GCNQSDĐ số CN270471. Vợ chồng ông H và bà L đã nhiều lần thương lượng với gia đình ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H để giải quyết việc cấp chồng GCNQSDĐ nhưng không được, do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy GCNQSDĐ số CN270471 nêu trên của ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H.
3. Người bị kiện trình bày:
3.1. Đại diện theo ủy quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông: Trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ số CN270471 cho ông Hà Bình N và bà Vi Thị H nhận chuyển nhượng từ ông Dương Đức T là đúng quy định của pháp luật. Do đó, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
3.2. Đại diện theo ủy quyền của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông: Trình tự, thủ tục chỉnh lý biến động GCNQSDĐ số CN270471 đối với bà Phạm Thị Thu N nhận chuyển nhượng từ ông Hà Bình N và bà Vi Thị H và chỉnh lý biến động đối với ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H (nhận chuyển nhượng từ bà Phạm Thị Thu N) là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, kết quả đo đạc, lồng ghép phát hiện GCNQSDĐ đã cấp cho ông D và bà H không đúng với vị trí thực tế đất sử dụng, chồng lên đất vợ chồng ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L. Do đó, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ trình bày:
4.1. Đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Đ: Trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ lần đầu cho ông Hà Bình N và bà Vi Thị H, thửa đất số 69, tờ bản đồ số 31 là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, kết quả đo đạc, lồng ghép phát hiện GCNQSDĐ nêu trên không đúng với vị trí thực tế, chồng lên đất vợ chồng ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L sử dụng. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
4.2. Ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H: Gia đình ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H nhận chuyển nhượng hợp pháp quyền sử dụng đất từ bà Phạm Thị Thu N, đã được cấp GCNQSDĐ. Đất gia đình ông, bà có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp với gia đình ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L, phân định bởi hàng rào gạch cao 20cm, có trụ gạch và cọc sắt. Do việc cấp GCNQSDĐ chồng lấn là lỗi từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên đề nghị giải quyết để ông được cấp GCNQSDĐ đúng vị trí sử dụng.
5. Người làm chứng ông Hà Bình N trình bày: Thửa đất số 69, tờ bản đồ số 31, GCNQSDĐ số CN270471 có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp với các hộ liền kề. Khi ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L làm thủ tục cấp GCNQSĐ đối với thửa đất liền kề thì mới phát hiện Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chồng GCNQSDĐ số CN270471 lên thửa đất ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L sử dụng.
Tại phiên tòa, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về nội dung: Nhận thấy đất ông H và bà L có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp với ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H. Tuy nhiên, qua kiểm tra, lồng ghép ghi nhận GCNQSDĐ số CN270471 cấp cho ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H, thửa đất số 69, tờ bản đồ số 31 bị sai lệch vị trí thửa đất thực tế, chồng lên đất ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L sử dụng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điề u 193 của Luật Tố tụng hành chính , chấp nhận toàn bộ yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TOÀ Á N:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhậ n đị nh:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thờ i hiệ u khở i kiệ n : Ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L khởi kiện vụ án trong thờ i hiệ u quy đị nh tạ i điể m a khoản 2 Điề u 116 của Luật Tố tụng hành chính.
[1.2]. Về thẩ m quyề n: Căn cứ khoản 4 Điề u 32 Luậ t Tố tụ ng hà nh chí nh, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
[2]. Về nội dung: Biên bản kiểm tra thực địa hiện trạng sử dụng đất ông H và bà L ngày 05-3-2021 và ngày 07-9-2021 của UBND xã Đ; Kết quả xem xét , thẩ m đị nh tạ i chỗ ngày 20-4-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông (BL số 147-151) ghi nhận: Thửa đất ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L sử dụng có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp với hộ liền kề ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H (nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Phạm Thị Thu N, bà Phạm Thị Thu N nhận chuyển nhượng của ông Hà Bình N), cụ thể: Ranh giới phía Đông giáp đất ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H được phân định bằng hàng rào gạch xây cao 20cm, trụ gạch và cọc sắt. Trên đất ông H và bà L sử dụng trồng cây mít phân biệt với trên đất ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H là căn nhà xây cấp 04. Hơn nữa, sơ đồ lồng ghép GCNQSDĐ của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ (BL số 127-129) ghi nhận: GCNQSDĐ số CN270471, thửa đất số 69, tờ bản đồ số 31 đứng tên ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H, bị sai lệch vị trí thửa đất thực tế, chồng lên đất ông H và bà L sử dụng. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND huyện Đ có sự sai sót, dẫn đến việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông cấp GCNQSDĐ số CN270471 ngày 16-5-2018, thửa đất số 69, tờ bản đồ số 31 cho ông Hà Bình N và bà Vi Thị H, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông chỉnh lý biến động đối với bà Phạm Thị Thu N ngày 20-01-2021, chỉnh lý biến động đối với ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H ngày 08-3-2022 (trên cơ sở chuyển nhượng) không đúng vị trí trên thực tế đất đang sử dụng. Song, giữa các đương sự không có tranh chấp đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tại phiên tòa và yêu cầu khởi kiện ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L.
[3]. Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầ u khở i kiệ n củ aông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L đượ c chấ p nhậ n nên ngườ i bị kiệ n Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; trả cho ông H và bà L tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ và o khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điề u 32; điể m a khoản 2 Điề u 116; điể m b khoả n 2 Điề u 193 Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng khoản 2 và 3 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013: Chấp nhận yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L
1.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số CN270471 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông cấp ngày 16-5-2018 cho ông Hà Bình N và bà Vi Thị H, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Đ chỉnh lý biến động đối với bà Phạm Thị Thu N ngày 20-01-2021, chỉnh lý biến động đối với ông Trần Văn D và bà Dương Thị Mỹ H ngày 08-3-2022 đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại bon Đ1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
1.2. Ủy ban nhân dân huyện Đ, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đắk Nông thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí hà nh chí nh sơ thẩ m: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2 Điề u 32 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toa án: Văn phòng̀ Đăng ký đất đai tỉnh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghì n đồ ng) án phí hành chính sơ thẩm. Trả cho ông Đào Văn H và bà Nguyễn Thị L số tiề n 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộ p theo Biên lai số 0000225ngày 27-12-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
3. Quyề n khá ng cá o : Đương sự có mặ t tạ i phiên toà có quyề n khá ng cá o bả n án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ; đương sự vắng mặ t tạ i phiên toà có quyề n khá ng cá o trong thờ i hạ n 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặ c đượ c niêm yế t theo quy đị nh phá p luậ t.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - UBND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Cục THADS tỉnh Đắk Nông; - Các đương sự; - Lưu: Tổ thụ lý ; Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) K’Tiêng |