- Tranh chấp gì? án hành chính — "nguyễn thừa tộ kiện UBND huyện Đạ Tẻh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai; Sửa toàn bộ b n án hành chính sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 18 Luật khiếu nại; Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số…; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 19/2023/HC-PT Ngày: 11/01/2023 V/v “Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh v c qu n lý đ t đai” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Chánh Trung
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Hòa Hiệp
Bà Trần Thị Th Hồng
- Thư ký phiên tòa: ông Ngu ễn Đức Thiện, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân c p cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngu ễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023 , tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử ph c thẩm vụ án hành chính thụ lý số 470/2022/TLPT-HC ngày 11 tháng 8 năm 2022 về việc “Khiếu kiện QĐHC trong l nh vực qu n lý đất đai”.
Ngư i kh i kiện:
1/ Ông Ngu ễn Thừa Tộ, sinh năm 1945; (vắng mặt)
2/ Bà Dương Thị Thanh Mai, sinh năm 1951; (vắng mặt)
Địa chỉ: Phòng 10, Lầu 10, Bock B2 Chung cư Diamond Riverside; số 1646A đường Võ Văn Kiệt, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủ qu ền của người khởi kiện: Ông Vũ Danh Long, sinh năm 1978(có mặt), địa chỉ: Thôn 3, xã Đạ Kho, hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng; và ông Phạm Văn Hu , sinh năm 1976(có mặt), địa chỉ: 252 Phan Xích Long, Phường 7, Quận Ph Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; (văn b n ủ qu ền số 002604 ngà 28/02/2022).
Ngư i b kiện: Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủ qu ền: Ông Ngu ễn Hoàng Minh, chức vụ Phó chủ tịch; (Theo văn b n ủ qu ền số 02/UQ-CT ngày 22/3/2022). (có mặt)
Người b o vệ qu ền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Bà Nhữ Thị Thanh Hương, chức vụ: Trưởng phòng tư pháp hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng; (có mặt)
Người làm chứng: ông Hoàng Hiển, sinh năm 1945. (có mặt)
Địa chỉ: T dân phố 4D, thị trấn Đạ Tẻh, hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/02/2022; bản tự khai của người khởi kiện ông Nguyễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai thể hiện như sau:
Nguồn gốc diện tích đất kho ng 3.600m2 thuộc thửa 243, tờ b n đồ 18C, thị trấn Đạ Tẻh, hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng do vợ chồng ông Tộ, bà Mai khai hoang từ năm 1985 không thuộc trường hợp được giao đất. Sau đó thửa 243 được tách ra thành thửa 131 và thửa 97. Năm 2013 ông Tộ, bà Mai đăng ký kê khai và được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất 1.000m2 đối với thửa đất 97, năm 2014 ông Tộ, bà Mai chu ển nhượng thửa 97 cho người khác.
Quá trình sử dụng đất ông Tộ, bà Mai có đăng ký kê khai qu ền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất trên (tài liệu thể hiện là đơn xin đăng ký cấp qu ền sử dụng đất) và có đóng thuế sử dụng đất (có b n phô tô 07 biên lai đóng thuế). Trên đất ông Tộ đã trồng nhiều loại câ ăn trái lâu năm. Tu nhiên, năm 2020 ông Tộ, bà Mai làm đơn đề nghị UBND hu ện Đạ Tẻh cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với phần diện tích còn lại kho ng 2.600m2 thuộc thửa 131, tờ b n đồ 18C, thị trấn Đạ Tẻh thì không được xem xét gi i qu ết. Do đó, ông Tộ, bà Mai khởi kiện êu cầu Tòa án:
+ Hủ Thông báo số 1802/UBND-TD ngày 13/12/2021, Thông báo số 05/UBND-TD ngày 05/01/2022 của Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh, về việc tr lời đơn của ông Ngu ễn Thừa Tộ;
+ Buộc Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với diện tích đất kho ng 2.600m2 thuộc thửa 131, tờ b n đồ 18C, thị trấn Đạ Tẻh cho ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai.
* Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đạ Tẻh trình bày:
UBND hu ện Đạ Tẻh không đồng ý cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất cho ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai vì những lý do sau:
- Thứ nhất, ông Tộ tự ý lấn chiếm sử dụng đất là trái pháp luật:
Năm 1986, UBND hu ện Đạ Huoai (l c nà chưa tách hu ện) thực hiện việc cấp đất cho 26 hộ dân là cán bộ, công chức sử dụng để n định đời sống trong đó có ông Tộ. Theo chủ trương UBND hu ện có chừa ra một diện tích kho ng 2.500m2 đất dọc đường 30/4 và đường 26/3 để xâ dựng trạm trung chu ển điện. Phần tiếp giáp diện tích đất nà là diện tích đất đã giao cho 26 hộ cán bộ, công nhân viên, mỗi hộ được cấp 1.000m2. Ngày 14/01/1986, ông Tộ được cấp qu ền sử dụng đất theo Qu ết định số 26/QĐ-UB đối với 1.000m2 đất thuộc thửa đất 97, tờ b n đồ số 18C, thị trấn Đạ Tẻh. Sau đó, ông Tộ đã được cấp giấ chứng nhận qu ền sử đụng đất. Nguồn gốc toàn bộ diện tích đất là của Nông trường Hà Lâm. Quá trình sử dụng đất, ông Tộ lấn chiếm đất xung quanh và đã bị người dân gần đó viết đơn tố cáo việc lợi dụng chức qu ền lấn chiếm đất gửi đến ủ ban kiểm tra tỉnh ủ Lâm Đồng. Tại cuộc họp của Văn phòng Ủ ban nhân dân hu ện, ông Tộ thừa nhận có lấn chiếm đất, san ủi mặt bằng để trồng câ vì đâ là đất trống nhà nước chưa sử dụng và ông Tộ cam kết khi nào nhà nước lấ lại đất thì ông tr lại.
Năm 2013, ông Tộ có đơn đề nghị xâ dựng đất và nhà ở nhưng UBND hu ện không đồng ý. UBND hu ện Đạ Tẻh xác định đâ là hành vi trái pháp luật lấn chiếm đất đai.
Như vậ , đủ cơ sở khẳng định ông Tộ sử dụng đất không được cơ quan có thẩm qu ền cho phép, đâ là hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
Căn cứ Điều 101 Luật đất đai qu định:
“Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất.
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tạỉ Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
Tại kho n 1 điều 22 nghị định 43 qu định:
“Điều 22. Việc xử lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.
1. Trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ hoặc lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng hoặc lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng khác thì Nhà nước thu hồi đất để trả lại cho công trình mà không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất đã lấn, chiếm”,
Như vậ , việc ông Ngu ễn Thừa Tộ sử dụng thửa đất 131 là thuộc trường hợp lấn chiếm sử dụng đất công trình công cộng.
- Thứ hai: Ông Tộ không phải là người sử dụng đất ổn định:
Tại Điều 21 nghị định 43/2014 qu định:
“Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định
1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận)
Qua rà soát quá trình sử dụng đất thực tế của ông Tộ, bà Mai cụ thể như sau:
+ Năm 1988, ông Ngu ễn Thừa Tộ bắt đầu sử dụng thửa đất số 131, tờ b n đồ 18C, thị trấn Đạ Tẻh.
+ Năm 1993, ông Tộ bị công dân tố cáo hành vi lợi dụng chức qu ền lấn chiếm đất, ủ ban kiểm tra tỉnh ủ Lâm Đồng đã có Thông báo số 07-TB/KT ngày 28/8/1993. Đến tháng 10 năm 1993 ông Tộ có đơn xin đăng ký sử dụng đất xâ dựng nhà ở và làm vườn đối với phần diện tích đất nà nhưng không được UBND hu ện chấp thuận.
Năm 1996, ông Tộ nghỉ hưu thôi giữ chức vụ Chủ tịch UBND hu ện Đạ Tẻh.
Năm 1998, ông Tộ, bà Mai đi nơi khác sinh sống không còn trực tiếp sử dụng.
Năm 2008, UBND hu ện Đạ Tẻh ban hành qu ết định 426/QĐ-UBND về việc phê du ệt kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ cuối (2006-2010), có điều chỉnh qu hoạch sử dụng đất của UBND thị trấn Đạ Tẻh thì thửa đất trên thuộc qu hoạch đất ở đô thị do UBND hu ện qu n lý.
Năm 2013 ông Tộ, bà Mai đăng ký kê khai và được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất 1.000m2 đối với thửa đất số 97, năm 2014 ông Tộ, bà Mai chu ển nhượng thửa 97 cho người khác.
Căn cứ nội dung Thông báo số 07-TB/KT ngày 28/8/1993 của ủ Ban kiểm tra Tỉnh ủ Lâm Đồng và Thông báo số 67/TB-UBND ngày 20/10/1993 của UBND hu ện Đạ Tẻh, UBND hu ện không thể xem xét, cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với diện tích đất ông đề nghị. Vì tại 02 văn b n nà đã xác định cụ thể: khu vực đất gia đình ông bà đề nghị cấp là khu vực đất công đã qu hoạch để sử dụng vào mục đích chung của hu ện.
Từ những căn cứ pháp lý nêu trên, đối chiếu với quá trình sử dụng đất thực tế của ông Tộ, bà Mai thì thấ rằng: mặc dù ông Tộ, bà Mai có sử dụng đất trước ngà 01/7/2004, đất không có tranh chấp với cá nhân nhưng việc sử dụng đất của ông không n định, không liên tục, không phù hợp qu hoạch sử dụng đất, có hành vi vi phạm pháp luật đất đai nên UBND hu ện Đạ Tẻh không có cơ sở cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất cho ông Tộ, bà Mai.
Do vậ , UBND hu ện không chấp nhận êu cầu của ông Tộ, bà Mai về việc yêu cầu UBND hu ện Đạ Tẻh cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với diện tích đất kho ng 2.600m2 thuộc thửa 131, tờ b n đồ số 18C, thị trấn Đạ Tẻh.
Vụ án đã được t chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo thủ tục chung; t chức đối thoại nhưng không thành.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 17/2022/HC-ST ngày 28/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng quyết định:
- Căn cứ vào kho n 1, kho n 2 Điều 3; Điều 30; Điều 32; Điều 116; Điều 164; Điều 191; điểm a kho n 2 Điều 193; Điều 348; Điều 358; Điều 206 của Luật tố tụng hành chính;
- Căn cứ Luật đất đai 1987; Luật đất đai 1993, sửa đ i, b sung năm 1998, 2001; Luật đất đai 2003, sửa đ i, b sung năm 2009; Luật đất đai 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành.
- Căn cứ Luật khiếu nại năm 2011 và các văn b n hướng dẫn thi hành;
- Căn cứ Luật t Chức chính qu ền địa phương năm 2015;
- Căn cứ Nghị qu ết 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của ủ ban thường vụ Quốc hội, qu định về án phí lệ phí Tòa án.
Tu ên xử:
Bác toàn bộ êu cầu khởi kiện của ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai về việc êu cầu Tòa án:
+ Hủ Thông báo số 1802/UBND-TD ngà 13/12/2021 và Thông báo số 05/UBND-TD ngà 05/01/2022 của Ủ ban nhân dân hu ện Dạ Tẻh;
+ Buộc Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với diện tích 2.600m2 thuộc thửa 131, tờ b n đồ 18C thị trấn Đạ Tẻh cho ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngà 01/7/2022 ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai (người khởi kiện trong vụ án) kháng cáo cho rằng phần đất 2.600m2 trước đâ thuộc thửa 243 tờ b n đồ số 18 tại thị trấn Đạ Tẻh (nằm ngoài 1.000m2 mà ông Tộ, bà Mai đã được cấp GCN QSDĐ), phần đất nà hẻo lánh, bỏ hoang, câ cối mọc um tùm. Ông bà đã thuê má cà để ủi, san lấp mặt bằng, trồng các loại câ trên đất, ông bà sử dụng từ năm 1985 đến na ; Năm 1992, và năm 2004, ông bà có kê khai đăng ký QSDĐ tại UBND thị trấn Đạ Tẻh, năm 2018 ông bà có xâ dựng căn nhà gỗ trên đất. Trong quá trình sử dụng từ năm 1985 đến na không có cơ quan nào thu hồi đất hoặc xử phạt hành chính đối với ông bà. Ông bà êu cầu UBND hu ện Đạ Tẻh cấp QSDĐ đối với diện tích 2.600m2 đất nêu trên cho ông bà, nhưng UBND lại ra thông báo số 1802/UBND-TD ngà 13/12/2021 và thông báo số 05/UBND-TD ngày 05/01/2022, không đồng ý cấp GCN QSDĐ cho ông bà. Ông bà khởi kiện đòi hủ 02 thông báo nêu trên của UBND hu ện Đạ Tẻh, xem xét cấp GCN QSDĐ đối với diện tích 2.600m2 đất cho ông bà. Tòa án cấp sơ thẩm xử bác êu cầu khởi kiện của ông bà là không đ ng, nên kháng cáo êu cầu xem xét lại. Tại Tòa, người đại diện theo ủ qu ền của ông Tộ, bà Mai vẫn giữ theo êu cầu kháng cáo như trên.
Người đại diện cho UBND hu ện Đạ Tẻh cũng như người b o vệ qu ền lợi cho UBND hu ện Đạ Tẻh cho rằng theo Qu ết định số 663/QĐ-UBND ngày 04/10/1982 thì Nông trường Hà Lâm gi i thể, giao phần đất trên cho UBND hu ện Đạ Huoai cũ (nay là hu ện Đạ Tẻh) qu n lý. UBND có xem xét cấp cho 26 hộ dân, mỗi hộ 1.000m2 (trong đó có hộ của ông Tộ). Phần đất còn lại theo qu hoạch làm trạm điện, năm 1983 thì ủ ban kiểm tra tỉnh ủ Lâm Đồng có kết luận số 07/TB-KT ngày 28/8/1993 và thông báo số 67/TB-KT ngà 20/10/1993 của UBND hu ện Đạ Huoai, xác định phần đất trên thuộc diện qu hoạch (do ông Tộ lấn chiếm), không cấp cho ông Tộ, khi nào cần thì nhà nước sẽ thu hồi. Hiện na được phê du ệt theo Qu ết định số 1277/QĐ-UBND ngà 14/7/2022 của UBND tỉnh Lâm Đồng, nên đề nghị giữ ngu ên b n án sơ thẩm xử.
Tại phiên tòa ph c thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai, giữ ngu ên b n án sơ thẩm xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết qu tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận: Toàn bộ diễn biến vụ án như phần tóm tắt nội dung đã được viện dẫn ở trên. Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai, trên cơ sở xem xét đầ đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên như sau:
Về tố tụng:
Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Thông báo số 1802/UBND-TD ngà 13/12/2021 và Thông báo số 05/UBND-TD ngà 05/01/2022 của Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh gi i qu ết khiếu nại về việc êu cầu cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với diện tích đất kho ng 2.600m2 thuộc thửa 131, tờ b n đồ 18C thị trấn Đạ Tẻh cho ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai; là các qu ết định hành chính trong l nh vực qu n lý đất đai, thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính và thuộc thẩm qu ền gi i qu ết của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng theo qu định tại kho n 1 Điều 30, kho n 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015.
Về thời hiệu khởi kiện: Sau khi nhận được các Thông báo của Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh nêu trên, ngày 09/02/2022, ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai khởi kiện vụ án hành chính là còn trong thời hiệu khởi kiện theo qu định tại kho n 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính 2015.
Về nội dung: Xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của Thông báo số 1802/UBND-TD ngày 13/12/2021 và Thông báo số 05/UBND-TD ngày 05/01/2022 của Ủy ban nhân dân huyện Đạ Tẻh.
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành:
Tháng 12/2020, ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai nộp hồ sơ xin cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với diện tích đất kho ng 2.600m2 thuộc thửa 131, tờ b n đồ 18C thị trấn Đạ Tẻh tại Phòng Tài ngu ên và Môi trường, Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh để xin cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất lần đầu. Tuy nhiên, cán bộ của Phòng Tài ngu ên và Môi trường hu ện Đạ Tẻh cho rằng phần đất của ông Tộ, bà Mai đề nghị cấp Giấ chứng nhận là đất công nên không nhận hồ sơ gi i qu ết.
Ông Tộ và bà Mai làm đơn khiếu nại hành vi hành chính của Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh không gi i qu ết cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất cho ông, bà. Đến ngà 09/12/2021, Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh có giấ mời ông Tộ, bà Mai đến làm việc, xác minh, làm rõ thêm một số nội dung. Căn cứ nội dung làm việc, ngà 13/12/2021 ông Tộ, bà Mai làm đơn khiếu nại Phòng Tài ngu ên và Môi trường hu ện Đạ Tẻh gửi đến Chủ tịch UBND hu ện Đạ Tẻh xem xét gi i qu ết, cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với phần đất có t ng diện tích kho ng 2.600m2 thuộc thửa đất số 131, tờ b n đồ số 18C mà gia đinh ông Tộ, bà Mai đã khai hoang, sử dụng n định từ năm 1985 cho đến nay.
Cùng ngà 13/12/2021, Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh ban hành Thông báo số 1802/UBND-TD về việc tr lời đơn của ông Ngu ễn Thừa Tộ cho rằng khu vực đất ông đề nghị được cấp qu ền sử dụng thuộc đất công do nhà nước qu n lý nên UBND hu ện không xem xét, cấp qu ền sử dụng đất theo đề nghị của ông.
Ngà 05/01/2022, Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh tiếp tục ban hành Thông báo số 05/UBND-KT về việc tr lời đơn của ông Ngu ễn Thừa Tộ cho rằng việc ông Tộ, bà Mai đề nghị cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất tại thửa 131, tờ b n đồ 18C, thị trấn Đạ Tẻh đã được UBND hu ện tr lời tại văn b n số 1802/UBND-TD nên không gi i qu ết.
Xét thấ , thẩm qu ền cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất lần đầu được qu định tại kho n 2 Điều 105 Luật đất đai năm 2013 như sau: “Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”.
Ngoài ra, căn cứ kho n 1 Điều 18 Luật khiếu nại 2011 qu định về thẩm qu ền gi i qu ết của Chủ tịch Ủ ban nhân dân cấp hu ện: “Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình”.
Đồng thời, kho n 1 Điều 31 Luật khiếu nại 2011 cũng qu định: “Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết định giải quyết khiếu nại”.
Như vậ , việc Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh lại ban hành Thông báo số 1802/UBND-TD ngày 13/12/2021 và Thông báo số 05/UBND-TD ngày 05/01/2022 gi i quyết khiếu nại của ông Tộ, bà Mai là không đ ng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo các qu định đã được viện dẫn ở trên.
Về nội dung:
Về nguồn gốc, quá trình đăng ký, quản lý, sử dụng đất
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Thừa Tộ và bà Dương Thị Thanh Mai trình bày ông, bà đã khai hoang, sử dụng phần đất có t ng diện tích kho ng 3.600m2 thuộc thửa đất số 243, tờ b n đồ số 18 (theo tài liệu đo đạc cũ) từ năm 1985. Sau khi khai hoang, ông Tộ, bà Mai đã xâ dựng nhà ở, đ đất san lấp mặt bằng, trồng các loại câ trên đất từ đó cho đến na như Câ sầu riêng, Câ bơ, Câ điều, Câ dừa,.... Căn cứ Biên b n đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ ngà 15/4/2022 (BL60) của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng thể hiện, trên phần đất này vẫn còn 01 nền nhà cũ và có kho ng hơn 23 câ lâu năm đang còn tồn tại gồm câ xoài, sầu riêng, mận, điều, dừa…được trồng từ năm 1985 cho đến na nên đường kính của câ rất lớn từ 0,55m đến 1,14m. Đại diện của UBND hu ện Đạ Tẻh cũng thừa nhận các câ trên do ông Tộ trồng. Đâ là chứng cứ không ph i chứng minh theo kho n 2 Điều 79 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Ngà 14/01/1986, UBND hu ện Đạ Huoai (khu vực nà sau đó được tách thành hu ện Đạ Tẻh) ban hành Qu ết định số 26/QĐ-UB giao cho ông Ngu ễn Thừa Tộ 1.000m2 đất tại đường 26-3 thị trấn Đạ Tẻh, hu ện Đạ Tẻh. Phần diện tích đất nà nằm trong diện tích kho ng 3.600m2 đất ông Tộ đã khai hoang trên. Hiện na , ông Tộ đã được UBND hu ện Đạ Tẻh cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất số BR585473 ngày 24/02/2014 đối với 1.000m2 đất có qu ết định cấp giấ , còn diện tích kho ng 2.600m2 còn lại chính là phần đất ông Tộ đang đề nghị được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất.
Căn cứ Hợp đồng mua bán điện sinh hoạt ngà 15/12/1993; S hộ khẩu gia đình số 552 cấp ngà 19/11/2001; Giấ khai sinh của hai người con của ông Tộ, bà Mai là Ngu ễn Thanh Bình (sinh năm 1983) và Ngu ễn Xuân An (sinh năm 1986) được sinh ra và đăng ký khai sinh tại thị trấn Đạ Tẻh… thể hiện ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai và các con của ông, bà đã đăng ký thường tr , sinh sống, làm việc và ở trên phần đất thuộc thửa đất số 243, tờ b n đồ số 18 này từ năm 1985.
Năm 2014, khi UBND hu ện Đạ Tẻh cấp một phần đất có diện tích 1.000m2 cho ông Tộ và bà Mai theo Giấ chứng nhận qu ền sử dụng số BR585472 ngày 24/02/2014 (BL11) cũng cập nhật phần đất bên cạnh, tức phần đất đang tranh chấp là “Đất ông Tộ chưa giao” mà không thể hiện là đất công ha đất do Nhà nước qu n lý.
Mặt khác, toàn bộ diện tích 3.600m2 ông Tộ và bà Mai khai hoang, sử dụng nêu trên đã được UBND thị trấn Đạ Tẻh ghi nhận tại s mục kê đất đai, s địa chính các năm 1993 và 2004. Diện tích đất được UBND thị trấn Đạ Tẻh cập nhật theo thửa 243, tờ b n đồ số 18 với diện tích là 3.624m2. Điều nà được cán bộ địa chính thị trấn Đạ Tẻh thừa nhận tại trang 3, trang 4 của Biên b n đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2022 (BL60), như sau: “Tại Sổ mục kê đo đạc theo hiện trạng sử dụng đất năm 1992, thửa 243 diện tích 4.822m2 ghi nhận tên người sử dụng đất là Nguyễn Thừa Tộ. Đến năm 2004 đo đạc lại tách ra thành thửa 97 diện tích 1.000m2 và thửa số 131 diện tích 2.624m2 trong sổ mục kê mới lập ghi nhận tên người sử dụng đất là ông Nguyễn Thừa Tộ”. Điều nà cũng được chính Ủ ban nhân dân thị trấn Đạ Tẻh thừa nhận tại Báo cáo số 54/BC-UBND ngày 22/6/2022 (BL130): “Kiểm tra sổ mục kê đo đạc năm 1991. Năm 1991 trung tâm dịch vụ địa chính tỉnh Lâm Đồng tiến hành đo đạc lập bản đồ địa chính theo quy trình 299…và tự ghi vào sổ mục kê thửa 243 tờ bản đồ 18 diện tích 4.822m2 đứng tên ông Nguyễn Thừa Tộ...Kiểm tra sổ mục kê đo đạc năm 2004...ghi trên sổ mục kê tờ bản đồ 18c người trồng cây ông Nguyễn Thừa Tộ”.
Kho n 15 Điều 4 Luật Đất đai 2003 qu định: “Sổ mục kê đất đai là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn để ghi các thửa đất và các thông tin về thửa đất đó”. Theo đó về mặt pháp lý thì s mục kê sẽ ghi nhận các thông tin về thửa đất, trong đó có tên của người sử dụng đất và người được giao qu n lý đất. Đồng thời, s mục kê là bộ phận cấu thành hồ sơ địa chính. S địa chính là cơ sở để xác định tình trạng pháp lý của thửa đất, b o hộ các qu ền và ngh a vụ của người sử dụng đất, b o hộ các qu ền và ngh a vụ chủ sở hữu tài s n gắn liền với đất. Đâ được coi như là căn cứ để cơ quan có thẩm qu ền tiến hành xem xét ai là người có qu ền sử dụng đất và người đó có được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất.
Ngoài ra, căn cứ các biên lai đóng thuế (BL89-92) thể hiện ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai đã kê khai, đóng thuế đối với toàn bộ diện tích đất đã khai hoang.
Kho n 2 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngà 15/5/2014 của Chính phủ qu định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013 như sau:
“... 2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:
a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;
e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;
i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;
k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.
Như vậ , theo các giấ tờ về đăng ký thường tr , hợp đồng mua bán điện, Biên lai nộp thuế sử dụng đất, có đủ căn cứ xác định ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai đã sử dụng đất có nhà ở n định, không tranh chấp trên diện tích đất đã khai hoang tại thị trấn Đạ Tẻh, hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng từ năm 1985 (trước ngày 15/10/1993) cho đến na .
- Người bị kiện, Ủy ban nhân dân huyện Đạ Tẻh cho rằng diện tích 2.600m2 đất ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai đang đề nghị được cấp giấ chứng nhận là đất công do Nhà nước qu n lý căn cứ vào Thông báo số 07-TB/KT ngày 28/8/1993 của Ủ Ban kiểm tra Tỉnh ủ Lâm Đồng và Thông báo số 67/TB-UBND ngà 20/10/1993 của UBND hu ện Đạ Tẻh. Trong đó thể hiện, ông Tộ thừa nhận lấn chiếm đất công và khi nào nhà nước sử dụng thì ông sẽ giao lại. Tại Báo cáo số 54/BC-UBND ngà 22/6/2022 (BL130), Ủ ban nhân dân thị trấn Đạ Tẻh lại cho rằng: “ông Tộ mượn đất để trồng cây ăn trái tăng thu nhập cho gia đình (Thời điểm mượn không viết giấy)”.
Tu nhiên, các Thông báo nêu trên không ph i là các qu ết định qu n lý hành chính của nhà nước về đất đai, không có giá trị pháp lý bắt buộc. Mặt khác, tại Thông báo số 07-TB/KT ngà 28/8/1993 của Ủ Ban kiểm tra Tỉnh ủ Lâm Đồng (BL 36, 37) nêu trên cũng không có nội dung nào xác định ha buộc ông Tộ ph i tr lại diện tích đất cụ thể là bao nhiêu, việc xác định ông Tộ lấn chiếm đất công cũng không dựa trên qu ết định nào của cơ quan Nhà nước có thẩm qu ền mà chỉ kiến nghị UBND hu ện Đạ Tẻh: “chừa lại cho đ/c Tộ một diện tích đất hợp lý, đồng thời có thông báo đình chỉ việc sử dụng phần đất thừa của đ/c Tộ”. Ngoài ra, tại chính Thông báo nà cũng có một số nội dung không chính xác như: “Như vậy, đ/c Tộ được Ủy ban Huyện cấp 1 lô đất thổ cư 2.000m2 (theo quyết định ban đầu)”. Thực tế ông Tộ chỉ có qu ết định cấp 1.000m2 đất, phần còn lại do ông khai phá sử dụng thêm.
Đối với Thông báo số 67/TB-UBND ngà 20/10/1993 của UBND hu ện Đạ Tẻh có nội dung: “giao cho ban quản lý ruộng đất thị trấn Đạ Tẻh, bộ phận quản lý XDCB và nhà đất huyện đo đạc xác định đúng diện tích đất xây dựng nhà ở lập vườn của đ/c Tộ”. Thông báo nà không ph i là qu ết định thu hồi đất và cũng không xác định cụ thể diện tích đất lấn chiếm ha bị thu hồi của ông Tộ.
Ngoài ra, ông Tộ không thừa nhận nội dung tại cuộc họp chi bộ ngà 02/8/1993 về hành vi lấn chiếm đất như Thông báo của Ủ ban kiểm tra Tỉnh ủ Lâm Đồng và các Thông báo nêu trên cũng không được giao cho ông Tộ để ông thực hiện các qu ền khiếu nại theo qu định. Đồng thời, các Thông báo nà cũng không được triển khai thực hiện trên thực tế vì phần đất diện tích 2.600m2 nêu trên vẫn do ông Tộ, bà Mai qu n lý, sử dụng từ năm 1985 và được chính UBND thị trấn Đạ Tẻh cập nhật trong s mục kê, s địa chính qua các thời kỳ với tên chủ sử dụng đất là ông Ngu ễn Thừa Tộ. Cho đến na diện tích đất nà cũng chưa bị Cơ quan Nhà nước có thẩm qu ền thu hồi, xác lập qu ền sở hữu nhà nước.
Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở xác định nguồn gốc, quá trình đăng ký, qu n lý, sử dụng phần đất diện tích 2.600m2 thuộc thửa số 131 tờ b n đồ số 18c, thị trấn Đạ Tẻh là thuộc qu ền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai.
Về điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Như đã phân tích ở trên, Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh cho rằng đất của ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai là đất công do Nhà nước qu n lý nhưng các Thông báo của Ủ ban kiểm tra tỉnh ủ , Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh không ph i là các qu ết định về qu n lý đất đai, không ph i là tài liệu, chứng cứ để chứng minh đất công.
Trong khi đó, theo các giấ tờ về đăng ký thường tr , hợp đồng mua bán điện, Biên lai nộp thuế sử dụng đất, có đủ căn cứ xác định ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai đã sử dụng đất có nhà ở n định, không tranh chấp trên diện tích đất đã khai hoang tại thị trấn Đạ Tẻh, hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng từ năm 1985 (trước ngày 15/10/1993) cho đến na .
Về việc Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh cho rằng tại Đơn đề nghị xin cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất ngà 12/02/2014, ông Tộ chỉ khai xin cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 1.000 m2 thuộc thửa đất 97, tờ b n đồ 18C, thị trấn Đạ Tẻh, hu ện Đạ Tẻh theo Qu ết định số 26/QĐ-UB ngày 14/01/1986, phần diện tích đất thửa 131, tờ b n đồ số 18C, thị trấn Đạ Tẻh, hu ện Đạ Tẻh thuộc qu ền qu n lý, sử dụng của UBND hu ện Đạ Tẻh nên ông Tộ không kê khai đăng ký và sau khi được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất số BR 585473 ngà 24/2/2014 ông Tộ cũng không thắc mắc, khiếu nại gì. Tu nhiên, việc ông Tộ chỉ có đơn đề nghị được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với phần đất trên là do chính sách của địa phương, không đồng ngh a với việc ông từ bỏ qu ền sử dụng hợp pháp đối với phần diện tích đất còn lại.
UBND hu ện Đạ Tẻh cho rằng ông Tộ, bà Mai chu ển đi nơi khác sinh sống từ năm 1998 làm căn cứ thể hiện ông Tộ, bà Mai không sử dụng đất n định. Tu nhiên, trước khi chu ển đi nơi khác cư tr , ông Tộ có giao cho người khác trông coi, cho người mượn phần đất trên để tiếp tục canh tác, qu n lý, sử dụng và ông Tộ, bà Mai vẫn thường xu ên về thăm và thu hoạch câ trái. Việc ông Tộ, bà Mai chu ển đi nơi khác sinh sống không ph i là căn cứ để từ bỏ qu ền sử dụng đối với phần đất mà ông, bà đã khai phá từ năm 1985.
Ngoài ra, diện tích 2.600m2 đất ông Tộ, bà Mai đề nghị được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất thực tế thuộc chung thửa 243 tờ b n đồ số 18 có t ng diện tích 3.600m2 trong đó có 50m2 nhà ở của ông Tộ, bà Mai được xâ dựng trước năm 1993. Trong thửa 243 tờ b n đồ số 18 thì phần diện tích 1.000m2 đất đã được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất nên mới tách thành thửa số 97 (1.000m2) và thửa số 131 (2.600m2) từ năm 2004.
Do đó, căn cứ kho n 1, kho n 5 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngà 15/5/2014 của Chính phủ qu định chi tiết thi hành một số điều, kho n của Luật Đất đai năm 2013 như sau:
“Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai:
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:
a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.
….
d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều này.
….
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:
c) Đối với đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng khác mà không được công nhận là đất phi nông nghiệp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích hiện trạng đang sử dụng như trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này; nếu người sử dụng đẩt đề nghị chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”.
Ngoài ra, kho n 2 Điều 101 Luật đất đai 2013 cũng qu định: “2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ... thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.
Đối chiếu với qu định nêu trên, ông Tộ, bà Mai qu n lý, sử dụng đất n định, không có tranh chấp, không vi phạm pháp luật về đất đai từ trước ngà 01 tháng 7 năm 2004 nên đủ điều kiện để được cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất, qu ền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất đối với diện tích 2.600m2 đất thuộc thửa số 131 tờ b n đồ số 18c (tách ra từ thửa số 243 tờ b n đồ số 18) thuộc thị trấn Đạ Tẻh. Việc thực hiện ngh a vụ tài chính khi cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất, qu ền sở hữu nhà ở và tài s n khác gắn liền với đất được thực hiện theo qu định của pháp luật.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử ph c thẩm xét và có căn cứ chấp nhận êu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai; Sửa toàn bộ b n án hành chính sơ thẩm.
Về án phí và các chi phí tố tụng
Về án phí hành chính sơ thẩm: Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng ph i chịu án phí và chi phí tố tụng hành chính sơ thẩm theo qu định.
Về án phí hành chính ph c thẩm: ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai không ph i chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ kho n 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai; Sửa toàn bộ b n án hành chính sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận êu cầu khởi kiện của ông Ngu ễn Thừa Tộ và bà Dương Thị Thanh Mai:
Hủ Thông báo số 1802/UBND-TD ngà 13/12/2021 của Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh và Thông báo số 05/UBND-TD ngà 05/01/2022 của Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.
Buộc Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh lập trình tự, thủ tục cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất đối với diện tích 2.600m2 thuộc thửa 131, tờ b n đồ 18C thị trấn Đạ Tẻh, hu ện Đạ Tẻh cho ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai theo đ ng qu định của pháp luật.
2. Án phí hành chính sơ thẩm: Ủ ban nhân dân hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng ph i chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: UBND hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng ph i chịu chi phí đo vẽ, xem xét, thẩm định tại chỗ tại cấp sơ thẩm là 5.822.000đ (Năm triệu tám trăm hai mươi hai nghìn đồng). Do ông Tộ, bà Mai đã tạm ứng trước số tiền nà , nên buộc UBND hu ện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng có trách nhiệm hoàn tr cho ông Tộ, bà Mai chi phí đo vẽ, xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.822.000đ (Năm triệu tám trăm hai mươi hai nghìn đồng) .
Án phí hành chính ph c thẩm ông Ngu ễn Thừa Tộ, bà Dương Thị Thanh Mai không ph i chịu.
B n án ph c thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngà tu ên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSNDCC tại TP.HCM (1); - TAND tỉnh Lâm Đồng (1); - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1); - Đương sự; - Cục THA DS tỉnh Lâm Đồng (1); - Lưu hồ sơ vụ án (2) (NĐT). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Chánh Trung |