vanban.org

Bản án 19/2023/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc chị Trần Thị H phải thanh toán cho ông Nguyễn Song Đ số tiền 960.

Về án phí: Buộc chị Trần Thị H phải chịu 40.800.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Song Đ số tiền 20.500.000 đồng (hai mươi triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí hiện có tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo BL 0001668 ngày 09/05/2023. Kể từ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đông Hương"
  • Tòa quyết gì? Buộc chị Trần Thị H phải thanh toán cho ông Nguyễn Song Đ số tiền 960.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 19/2023/ DSST
Ngày: 26/07/2023
"V/v tranh chấp HĐ vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thẩm - Bà Phan Kim Hoa

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Văn Hoài

Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị T – Chức vụ: kiểm sát viên.

Ngày 26/07/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Vinh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 86/2023/DS - ST ngày 11/05/2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/DS - QĐ ngày 29/06/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Song Đ - sinh năm 1964 (có mặt)

Trú tại: khối P, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Chị Trần Thị H – sinh năm 1982 ( vắng mặt)

Trú tại: khối E, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Căn cứ vào đơn khởi kiện và những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thì nguyên đơn ông Nguyễn Song Đ trình bày: Chị Trần Thị H là bạn bè chơi thân thiết với cháu ông Đ nên đầu tháng 4/2023 chị H nhờ cháu ông Đ giới thiệu giúp đỡ vay tiền trong thời gian ngắn để đáo hạn Ngân hàng. Do tin tưởng bạn của cháu và nghĩ thời gian vay ngắn nên ông Đ đồng ý. Ngày 18/4/2023, ông Đ đã cho chị H vay số tiền 960.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi triệu đồng). Khi vay chị H có viết giấy vay tiền và hẹn 10 ngày trả. Đến hẹn không thấy chị H trả tiền nên ông Đ đã gọi điện, nhắn tin cho chị H nhưng không được. Ông Đ đến nhà đòi thì thấy có nhiều người đến đòi nợ chị H nhưng chị H xin khất nợ chứ không có tiền trả. Vì vậy, ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị Trần Thị H phải trả cho ông số tiền 960.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi theo lãi suất Ngân hàng cho đến khi trả nợ xong. Tại phiên tòa ông Đ yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét buộc chị H trả cho ông số tiền 960.000.000.000 đồng(chín trăm sáu mươi triệu đồng).

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Trần Thị H vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến nay như sau: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho VKS nhân dân thành phố V đầy đủ, đúng quy định pháp luật, cấp, tống đạt các văn bản cho các đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án chị H vắng mặt không có lý do như vậy chị H từ bỏ quyền chứng minh của mình. Ngoài ra tại biên bản lấy lời khai anh Trịnh Anh D chồng chị H vào ngày 20/6/2023 thì anh D cũng xác nhận giấy xác nhận vay tiền ngày 18/4/2023 do ông Đ giao nộp đúng là chữ ký, chữ viết của của chị H. Như vậy, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Song Đ. Buộc chị Trần Thị H phải trả lại cho ông Nguyễn Song Đ số tiền 960.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi triệu đồng).

Về án phí : Buộc chị Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Song Đ, chị Trần Thị H có địa chỉ cư trú tại thành phố V, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân thành phố Vinh thụ lý vụ án để giải quyết là đúng quy định tại điểm b khoản 1 điều 39 BLTTDS. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các các thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho các bên đương sự. Chị H vắng mặt không có lý do. Như vậy, chứng tỏ chị H cố tình trốn tránh, ông Đ đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 4 điều 207 và khoản 1 điều 228 BLTTDS để giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Nguyễn Song Đ và chị Trần Thị H. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Nguyễn Song Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy: Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 18/04/2023, ông Nguyễn Song Đ cho chị Trần Thị H vay số tiền 960.000.000 đồng. Khi vay chị H đã viết giấy vay tiền với nội dung “… Tôi Trần Thị H … Đ/c: SN 159/K5, phường H, TPV, NA. Tôi có vay của anh Nguyễn Song Đ … số tiền 960.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi triệu đồng). Vay để đảo khế Ngân hàng. Hẹ 10 ngày sau tôi thanh toán đầy đủ…”. Đến hẹn chị H không trả tiền nên ông Đ đến nhà đòi nhưng không được nên ông Nguyễn Song Đ khởi kiện yêu cầu chị H trả lại số tiền 960.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi triệu đồng). Chị Trần Thị H nhận đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lời khai, từ bỏ quyền chứng minh của mình, chứng tỏ cố tình trốn tránh. Ngày 20/6/2023 Tòa án đã lấy lời khai của anh Trịnh Anh D chồng chị H thì anh D cũng xác nhận “giấy xác nhận vay tiền” viết ngày 18/4/2023 do ông Đ giao nộp đúng là chữ viết, chữ ký của chị Trần Thị H. Việc chị H vay ông Đ tiền để làm gì thì anh D không biết, sau này có thấy nhiều người đến đòi nợ thì anh D có hỏi nhưng chị H không nói. Như vậy, yêu cầu khởi kiện buộc chị Trần Thị H phải trả cho ông Nguyễn Song Đ số tiền 960.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Về lãi suất: Quá trình khởi kiện ông Đ cho rằng khi vay hai bên thỏa thuận tính lãi suất theo Ngân hàng là 0.8%/ tháng nên ông yêu cầu buộc chị H phải trả lãi suất. Tại phiên tòa ông Đ xin thay đổi yêu cầu khởi kiện là không tính lãi. Xét thay đổi của ông Đ là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật cần chấp nhận.

Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39, điều 147, điều 227, điều 228, điều 271, điều 273 BLTTDS 2015; điều 463, điều 464, điều 465, điều 466, điều 468 Bộ luật dân sự; điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về lệ phí, án phí xử:

Buộc chị Trần Thị H phải thanh toán cho ông Nguyễn Song Đ số tiền 960.000.000 đồng (chín trăm sáu mươi triệu đồng).

Về án phí: Buộc chị Trần Thị H phải chịu 40.800.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Song Đ số tiền 20.500.000 đồng (hai mươi triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí hiện có tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo BL 0001668 ngày 09/05/2023.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ