- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Đ khởi kiện yêu cầu bà G trả nợ hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ đối với ông Trần Văn Tr và bà Danh Kim G về việc tranh chấp nợ hụi.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/DS-ST Ngày: 26/4/2023 V/v Tranh chấp nợ hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
2. Ông Lương Chí Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 20/2023/TLST- DS ngày 06 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970 (có mặt)
Địa chỉ: ấp 15, xã Đ, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu
- Đồng bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Bà Danh Kim G, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: ấp 11, xã Đ, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15/12/2022, lời khai trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Đ trình bày: Vào năm 2017 bà là chủ hụi có cho vợ chồng ông Trần Văn T và bà Danh Kim G tham gia chơi hụi, cụ thể từng dây hụi, loại hụi bà không nhớ. Trong quá trình chơi hụi ông Tr và bà G đã hốt hụi xong, nhưng không đóng lại hụi chết cho bà. Tổng số tiền ông Tr và bà G nợ bà là 400.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà G chỉ thừa nhận còn nợ bà tổng số tiền 313.100.000 đồng, bà cũng đồng ý với số tiền này. Nay bà xác định bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Tr và bà G có trách nhiệm trả cho bà tiền nợ hụi tổng là: 313.100.000 đồng.
Bị đơn bà Danh Kim G trình bày: Bà G thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà Đ là chủ hụi. Tuy nhiên, bà G cho rằng bà không nhớ cụ thể bà tham gia chơi hụi bao nhiêu chưng, loại hụi bao nhiêu tiền, nhưng bà thừa nhận bà còn nợ tiền hụi của bà Đ tổng số tiền 313.100.000.000 đồng. Bà đồng ý trả cho bà Đ nhưng yêu cầu được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng và bà G xác định việc tham gia chơi hụi ông Tr có biết và cùng tham gia chơi, giữa bà và ông Tr có mối quan hệ vợ chồng, hốt hụi của bà Đ để xây nhà và sử dụng trong gia đình, do đó bà yêu cầu Tòa án buộc ông Tr cùng bà có trách nhiệm trả nợ cho bà Đ.
Bị đơn ông Trần Văn Tr dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà xét xử mà không có lý do chính đáng, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của ông Tr.
Tại phiên toà bà Đ giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện buộc bà G và ông Tr có trách nhiệm trả nợ hụi 313.100.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp nợ hụi”. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật. Bị đơn ông Tr vắng mặt tại phiên toà lần 2 không có lý do chính đáng là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ, buộc ông Tr và bà G có nghĩa vụ trả cho bà Đ tổng số tiền nợ hụi là 313.100.000 đồng và tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án. Đối với án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi kiện ngày 15/12/2022 của nguyên đơn có căn cứ xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp nợ hụi” do đồng bị đơn ông Trần Văn Tr và bà Danh Kim G cùng cư trú tại: Ấp 11, xã Đ, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã R theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Đồng bị đơn là ông Trần Văn Tr đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Tr.
Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà G và ông Tr cùng có trách nhiệm trả nợ hụi tổng số tiền 313.100.000 đồng. Chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, các giấy tham gia chơi hụi của ông Tr. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các tài liệu nêu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bà G ngày 20/02/2023 và tại phiên toà sơ thẩm bà G thừa nhận có tham gia chơi hụi của bà Đ và thừa nhận còn nợ bà Đ số tiền hụi là 313.100.000 đồng, do đó đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bà G và ông Tr cùng có nghĩa vụ trả nợ Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các giấy tham gia chơi hụi và lời khai của bà G thì có cơ sở xác định ông Tr là người trực tiếp tham gia chơi hụi, việc hốt hụi theo lời khai của bà G là để có kinh phí xây nhà đang ở hiện nay và để chi tiêu trong gia đình. Ông Tr và bà G có mối quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 21/9/2012 tại UBND xã Phong Thạnh Đông, đến nay vẫn còn chung sống như vợ chồng, bà G cũng yêu cầu ông Tr cùng có trách nhiệm trả nợ hụi cho bà Đ. Xét thấy thời điểm phát sinh tranh chấp được xác định là trong thời kỳ hôn nhân giữa bà G và ông Tr. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận nội dung yêu cầu của bà Đ, buộc ông Tr và bà G cùng có trách nhiệm trả nợ hụi tổng số tiền 313.100.000 đồng cho bà Đ.
Xét ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R về việc giải quyết vụ án là phù hợp, có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên ông Tr và bà G có nghĩa vụ trả nợ và phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Tr và bà G phải chịu là: 313.100.000 đồng x 5% = 15.655.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 178; Điều 227 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 7 Điều 4; khoản 2 Điều 10; Điều 16 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường;
- Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ đối với ông Trần Văn Tr và bà Danh Kim G về việc tranh chấp nợ hụi.
1.1. Buộc Trần Văn Tr và bà Danh Kim G có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Đ số tiền nợ hụi là 313.100.000 đồng (Ba trăm mười ba triệu một trăm nghìn đồng).
1.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên đây, hàng tháng ông Tr và bà G còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
2.1. Buộc ông Trần Văn Tr và bà Danh Kim G phải nộp 15.655.000đ (Mười lăm triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng), tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R khi án có hiệu lực pháp luật.
2.2. Bà Trần Thị Đ không phải chịu án phí, bà Trần Thị Đ đã nộp 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Biên lai thu số 0004652 ngày 06/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã R được hoàn lại toàn bộ.
3. Bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thõa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
4. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Nơi nhận:
| + TAND tỉnh Bạc Liêu; + VKSND cùng cấp; + Chi cục THADS cùg cấp; + Các đương sự; + Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thuý |