vanban.org

Bản án 19/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Thòng Nhì C (tên gọi khác là Ổn) 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2021.

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại chứa trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số 1662/KLGĐ – PC09 ngày 19/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 đã qua sử dụng, hiện không hoạt động có có số seri 89840480… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BAHS Thòng Nhì C - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Thòng Nhì C (tên gọi khác là Ổn) 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Kể từ ngày bản án; Điều 106 Bộ luật Tố tụng - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số:19/2022/HSST
Ngày: 21/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Ký

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch

Ông Tạ Văn Đài

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hà - Cán bộ Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 311/2021/HSST, ngày 31/12/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/HSST-QĐ, ngày 06/01/2022 đối với bị cáo:

Thòng Nhì C (tên gọi khác là Ổn), sinh năm 1991 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp TH, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không: Trình độ học vấn: 03/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Hoa Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thòng A B (đã chết) và mẹ Tằng Nhục L, sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 04/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 10/8/2020.

Nhân thân: Ngày 22/11/2016, bị Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 281/2016/HSST.Chấp hành xong bản án ngày 07/01/2018.

Bị cáo bị bắt ngày 08/8/2021 – Bị cáo có mặt.

Người làm chứng:

+ Anh Chung Đức S – Vắng mặt.

+ Anh Thóng Cún S1 – Vắng mặt;

+ Anh Phạm Minh T – Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thòng Nhì C là người nghiện ma túy (loại hàng đá), vào khoảng 12 giờ ngày 07/8/2021, C sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh đen gắn sim số 0393xxx739 gọi cho đối tượng tên H không rõ nhân thân lai lịch để mua 1.000.000đ tiền ma túy đá. Khoảng 10 giờ ngày 08/8/2021, L gọi điện thoại cho C hẹn đến khu vực xóm Nước Đen thuộc khu 4, ấp TH, xã B, huyện T để giao tiền và nhận 03 gói nylon bên trong chứa ma túy đá. Sau đó, C giấu ma túy vào túi quần và đi bộ đến nhà anh Thóng Cún S1 đề nghị bán cho anh S1 01 điện thoại di động mà C đang cầm cô với giá 4.000.000đ, anh S1 đồng ý và đưa cho C 4.200.000đ (200.000đ đổ xăng) để đi chuộc lại điện thoại mang về giao cho anh S1. Do thời điểm này tình hình dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp, C không được đi ra khỏi địa bàn xã B nên C điện thoại cho anh Phạm Minh T nhờ T đến khu vực cây xăng thuộc đường số 4, khu 4, ấp Tân Hoa, xã B, huyện T để lấy tiền đi chuộc điện thoại về cho C thì T đồng ý. Sau đó C mượn xe mô tô hiệu XZ Wave màu đỏ biển số 60T – 0392 của anh S đi đến điểm hẹn gặp T. Lúc 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi C đi đến khu vực đường số 4, khu 4, ấp Tân Hoa, xã B, huyện T thì bị Công an xã B phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm 03 gói nilong hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong theo quy định), số tiền 4.200.000đ, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh đen cùng sim số 0393xxx739 và 02 xe mô tô hiệu ZX Wave màu đỏ, biển số 60T – 0392.

Tại bản kết luận giám định số 1662/KLGĐ ngày 13/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: 03 gói nylon chứa tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 9,9222gam, loại Methamphetamine.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 1662/KLGĐ – PC09 ngày 19/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh cùng sim số 0393xxx739 là phương tiện C sử dụng vào việc mua ma túy, đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với xe mô tô hiệu ZX Wave màu đỏ, BS 60T5 – 0392 và số tiền 4.200.000đ là tài sản hợp pháp của anh Thòng Cún S, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh S.

Tại bản Cáo trạng số 19/CT/VKS-TB, ngày 29/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Thòng Nhì C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên nội dung cáo trạng, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề nghị xử lý vật chứng, đề xuất xử phạt bị cáo từ 06 năm tù đến 07 năm tù và buộc bị cáo phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/8/2021, tại đường 4, ấp Tân Hoa, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Thòng Nhì C có hành vi tàng trữ trái phép 9,9222 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị bắt giữ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thòng Nhì C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Bị cáo đã bị Tòa án kết án và đi cai nghiện bắt buộc nhưng không chịu tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội, nên cần phải có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cái theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong sau giám định số 1662/KLGĐ – PC09 ngày 19/8/2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng, hiện không hoạt động có số seri 8984048008819057647.

+ Đối với 01 xe mô tô ZX Wave màu đỏ, biển số 60T5 – 0392 và số tiền của anh Thòng Cún Sáng không liên quan đến việc phạm tội, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Sáng là có căn cứ.

Đối với đối tượng H và L do không rõ nhân thân lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý. Đối với anh Thóng Cún S1 và Phạm Minh T không liên quan đến hành vi phạm tội của Thòng Nhì C nên cơ quan điều tra không xử lý. Riêng Phạm Minh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên công an xã B đã xử phạt hành chính là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Xét tính hợp pháp của các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy đúng với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Thòng Nhì C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thòng Nhì C (tên gọi khác là Ổn) 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2021.

2.Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại chứa trong 01 phong bì niêm phong sau giám định số 1662/KLGĐ – PC09 ngày 19/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 đã qua sử dụng, hiện không hoạt động có có số seri 8984048008819057647 (theo biên bản bản giao vật chứng ngày 30/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Nai).

3.Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Thòng Nhì C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;

- Cơ quan điều tra Công an huyện T;

- Bộ phận T.H.A hình sự;

- Chi cục T.H.A dân sự huyện T

- Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;

- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;

- Lưu hồ sơ.

Lê Thị Ký

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN T

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI

––––––––––––––––––––––––––

–––––––––––––––

T, ngày 10 tháng 10 năm 2019

Số: 440/CV-TA

V/v: “Kiến nghị xem xét

trách nhiệm hình sự”

Kính gửi: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Ngày 10 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện T tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2019/HSST, ngày 23/9/2019 đối với bị cáo: Mai Đức Anh (tên gọi khác: Chớp, Chớp Điên), sinh năm 1990 và đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án thì thấy bị cáo Mai Đức Anh ngoài phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự còn có dấu hiệu của tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự nên Tòa án nhân dân huyện T đã trả hồ sơ để Viện kiểm sát nhân dân huyện T xem xét trách nhiệm hình sự về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Anh. Tuy nhiên, Viện kiểm sát cho rằng bị cáo Mai Đức Anh chỉ phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự vì cho rằng số tiền xâu 200.000 đồng thu được tại chiếu bạc là tiền các bị cáo tự bỏ ra dùng chung cho cả nhóm để mua thức ăn, nước uống …chứ không phải Mai Đức Anh thu riêng cho bị cáo nên giữ nguyên quyết định truy tố.

Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Tòa án nhân dân cấp trên xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo Mai Đức Anh về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Xin trân trọng cảm ơn!

Cỡ chữ