- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Nguy n Hữu A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O - TP.HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:19/2022/HSST Ngày: 24/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O, TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Khải Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Ng c ; ng Lưu Bá Ng c Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đỗ Văn Thường - Thư ký Toà án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O tham gia phiên toà: ng Nguy n Th Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Th O – TP. Hà Nội; Tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18 ngày 04 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
H và tên: Nguyễn Hữu A; Tên g i khác: Không; Sinh năm: 1987
Nơi cư trú: Thôn Th, xã Ph X, huyện M Đ, thành phố Hà Nội Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự doTrình độ văn hoá: 12/12; H và tên bố: Nguy n Hữu B; Sinh năm: 1958 H và tên mẹ: Nguy n Thị Th; Sinh năm: 1962; Gia đình bị can có 3 chị em, bị can là con thứ 3; Vợ: Nguy n Thị H; Sinh năm: 1989 (Đã ly hôn)
Có 01 con sinh năm 2014 Tiền án: Ngày 29/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đến ngày 09/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù.Tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/02/2022 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Th O, thành phố Hà Nội.
Người bị hại:
Đỗ Anh T: sinh năm 1998, địa chỉ: thôn La Th, xã H V, huyện Th T, Hà Nội (Vắng mặt).
Người
ch ng trong vụ án:
1. Trần Văn Th, sinh năm 1998, địa chỉ: thôn à C, xã Qu, huyện Ứng Hòa,
Hà Nội (Vắng mặt).
2. Nguy n Tùng D, sinh năm 2006, địa chỉ: thôn Phú M, xã Thư Ph, huyện
Th T, Hà Nội(Vắng Mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 10/02/2022, Nguy n Hữu A sinh năm 1987, trú tại thôn Th, xã Ph X, huyện M Đ, thành phố Hà Nội đi bộ từ nhà đến cầu Ph X thuộc địa phận thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, rồi đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến địa phận huyện Th O, thành phố Hà Nội để giải quyết công việc. Trên đường đi qua cửa hàng tạp hóa Tâm Max ở thôn Mới, xã Cao D, huyện Th O, Nguy n Hữu A thấy 01 chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát: 29H - 08095 do anh Đỗ Anh T sinh năm 1998, trú tại thôn La Th, xã H V, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội điều khiển, đỗ trước cửa hàng tạp hóa Tâm Max để giao hàng. Lúc này xe ô tô không khóa cửa xe, còn anh T đang bốc dỡ hàng ở phía sau xe tải. Do là đối tượng nghiện ma túy nên Nguy n Hữu A đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong xe ô tô. Sau đó Nguy n Hữu A bảo người lái xe ôm quay lại, dừng xe ở bên đường đối diện để sang cửa hàng tạp hóa mua đồ, Nguy n Hữu A xuống xe, đi bộ đến chỗ chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát: 29H - 08095 đang đỗ trước cửa hàng tạp hóa Tâm Max, mở cửa bên ghế lái của xe và lấy được 01 chiếc điện thoại Iphone của anh T để trong xe ô tô. Sau khi lấy được điện thoại, Nguy n Hữu A cầm chiếc điện thoại và đi sang chỗ người lái xe ôm thì bị anh Trần Văn Th sinh năm 1998 ở xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa đang đỗ xe ô tô tải gần đó phát hiện chạy theo giữ Nguy n Hữu A lại, còn người lái xe ôm điều khiển xe máy bỏ đi. Cùng lúc này tổ công tác của Công an xã Cao D đang tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn đi đến và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tang vật thu giữ:
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen, số Imei: 356741085367646
Đến 16 giờ 30 phút ngày 10/02/2022, Công an xã Cao D bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ án, tang vật thu giữ và đối tượng Nguy n Hữu A cho cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Th O để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 07 ngày 16/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Th O kết luận:
- 01 chiếc điện thoại Iphone màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 356741085367646, màn hình có vết rạn nứt, có giá trị 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng).
Tại bản Cáo Trạng số: 18/CT-VKS ngày 18/4/2022 của Viện Kiểm sát huyện Th O truy tố bị cáo về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐ : Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 BLHS xử phạt bị cáo mức án từ 09-12 tháng tù,thời hạn tính từ ngày 10/02/2022.
- Về hành phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án , kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Th O, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại, người làm chứng, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292; 293; 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vậy có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 10/02/2022, tại khu vực trước cửa hàng tạp hóa Tâm Max ở thôn Mới, xã Cao D, huyện Th O, thành phố Hà Nội. Lợi dụng sự sơ hở của Đỗ Anh T đang bốc dỡ hàng phía sau xe ô tô tải biển kiểm soát: 29H - 08095, Nguy n Hữu A đã lén lút trộm cắp được của anh T 01 chiếc điện thoại Iphone có giá trị 4.500.000 đồng để trong xe ô tô thì bị phát hiện bắt quả tang. Đối chiếu với các quy định của pháp luật thì hành vi nêu trên của Nguy n Hữu A đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
ét tính chất, hành vi của bị cáo: Bị cáo đã xâm phạm đến quyền quản lý sở hữu tài sản của công dân, vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự an ninh địa pH, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
ét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng bị cáo có tiền án, lần phạm tội này là tái phạm.
- Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. ét cần cách ly bị cáo một thời gian mới có thể cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo phải đi chấp hành án, không có nghề nghiệp ổn định nên mi n hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định anh Đỗ Anh T là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc điện thoại Iphone X. Ngày 24/02/2022, cơ quan điều tra trả lại cho anh T chiếc điện thoại trên là có căn cứ. Anh T đã nhận lại và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên Tòa không xét.
Đối với người lái xe ôm chở Nguy n Hữu A đến địa phận xã Cao D, huyện Th O. Quá trình điều tra Nguy n Hữu A khai nhận người lái xe ôm này không biết việc Nguy n Hữu A trộm cắp tài sản của anh Đỗ Anh T. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người lái xe ôm nên không có căn cứ để xem xét xử lý trong vụ án này.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo: Nguy n Hữu A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm S, Khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, điều 52 BLHS.
+ xử phạt bị cáo Nguy n Hữu A 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 10/02/2022.
2. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguy n Hữu A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Th O; - Công an huyện Th O; - Chi cục THA DS huyện Th O - Bị cáo; - u hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ PHẠM VĂN KHẢI |