- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thư ng tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình s; Điều 134 Bộ luật hình s; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình s
| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYỆN I P TÆNH G L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2022/HSST. Ngày: 22/6/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN I P, TỈNH G L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Minh Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mã Thị Dên.
- Ông Phan Nam Định.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Quản Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện I P, tỉnh G L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện I P, tỉnh G L tham gia phiên toà: Ông Nay Uy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện I P, tỉnh G L xét x s th m công khai vụ án hình s s th m thụ lý số 08/2022/TLST-HS, ngày 13 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số 10/2022/QĐXXST - HS, ngày 18 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/HSST-QĐ ngày 07/6/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D; Sinh ngày: 20/12/1992 tại huyện Tây S n, tỉnh Bình Định; N i cư trú: Thôn 2, xã B N, huyện T S, tỉnh B Đ; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch; Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1955 và bà Đoàn Thị T, sinh năm 1959. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền s : Không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Phan Văn X, sinh năm: 1976.
Trú tại: Thôn 3, xã B N, huyện T S, tỉnh B Đ. Có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1982.
Trú tại: Thôn 3, xã B N, huyện T S, tỉnh B Đ. Vắng mặt (Có lý do).
- Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm: 1988.
Trú tại: Thôn 3, xã B N, huyện T S, tỉnh B Đ. Vắng mặt. (Có lý do).
* Người làm chứng:
- Anh Phạm Phú T, sinh năm: 1985.
Trú tại: Thôn 2, xã B N, huyện T S, tỉnh B Đ. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hồng P, sinh năm: 1988.
Trú tại: Thôn 2, xã B N, huyện T S, tỉnh B Đ. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thanh K, sinh năm: 1996.
Trú tại: Thôn 3, xã B N, huyện T S, tỉnh Bì Đ. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tùng V, sinh năm: 1976.
Trú tại: Thôn P A, xã T X, huyện T S, tỉnh B Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/02/2021, Nguyễn Văn D đến ở tại lán trại của anh Nguyễn Ngọc C thuộc Pl i Toan, xã Ia Kd, huyện I P, tỉnh G L để làm thuê bốc xếp dưa hấu. Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 23/02/2021, D cùng khoảng 06 người khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch) T hành đánh bạc hình thức đánh bầu cua thắng thua được bằng tiền tại lán trại của anh C. Khi đánh bạc, D và Nguyễn Thanh V phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau, thấy vậy anh Phan Văn X đứng dậy ra ngoài đi về. Lúc này, D cầm 01 ly nước trà đã nguội tạt vào mặt V và cầm ly đánh 01 cái trúng sượt tai phải của V nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó, V đi về kể với X về việc vừa bị D đánh nên X và V cùng quay lại lán trại tìm D để đánh. V đi đến đứng trước c a lán trại, còn X nhặt 01 cây gỗ (dài khoảng 1,5m, đường kính 03cm) ở gần đó cầm đi vòng ra bên hông lán trại và giở tấm bạt trại lên nhìn vào trong. Lúc này, D đang ngồi ở bên trong lán trại biết V và X quay lại để đánh D, D sợ nên bỏ chạy ra ngoài, khi chạy đến khu v c bếp của lán trại thấy 01 dao r a (dài khoảng 80cm, cán bằng gỗ dài 50cm, đường kính 04cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm, bản rộng nhất 8cm, mũi dao quắm) ở dưới đất, D lấy cầm theo mục đích là để chống trả lại V và X nếu bị V và X đánh. Phát hiện X cầm cây gỗ tìm đánh D nên anh Phạm Phú T và Nguyễn Hồng P liền chạy đến can ngăn, giật lấy cây gỗ từ X, nhưng X vẫn tiếp tục đi vòng ra phía sau lán trại tìm D. Khi D chạy ra đến khu v c đất trống ở phía sau cách khu v c bếp của lán trại khoảng h n 05m thì gặp X. Tại đây, D và X xông vào giằng co với nhau, khi X đứng đối diện giằng co, xô đ y với D thì tay phải D cầm dao r a chém 01 nhát theo hướng chéo từ phải sang trái, từ trên xuống dưới trúng ngang hông bên trái của X gây thư ng tích. Thấy X bị thư ng, P chạy đến giật lấy dao r a từ D và vứt lại tại hiện trường, anh V cùng anh Nguyễn Thanh K và anh Nguyễn Tùng Vân thấy vậy chạy đến đưa X đi cấp cứu.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thư ng tích số 306/21/TGT, ngày 22/12/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh G L, kết luận: Về tỉ lệ tổn thư ng c thể của Phan Văn X do thư ng tích gây nên tại thời điểm giám định là 22%;
- Về c chế hình thành vết thư ng: Do s tác động tr c tiếp của ngoại l c; về xác định vật gây thư ng tích: Căn cứ vào đặc điểm dấu vết thư ng tích ban đầu được ghi nhận trên hồ s bệnh án điều trị và biên bản ghi lời khai các bên xác định vật gây thư ng tích nêu trên cho ông X là do tác động phù hợp với vật sắc có cạnh.
Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKS ngày 12/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện I P, tỉnh G L truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Cố ý gây thư ng tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình s .
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát th c hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét x tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thư ng tích” và đề nghị:
- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình s x phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s . Đề nghị Hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của người bị hại: Do trong vụ án này bị hại cũng có lỗi là có cầm cây đi tìm bị cáo và có xông vào giằng co với bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét x xem xét x cho bị cáo với mức hình phạt nhẹ nhất.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được th m tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên c sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: C quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện I P trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã th c hiện đúng th m quyền, đúng trình t thủ tục của Bộ luật tố tụng hình s quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các c quan, người T hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ s vụ án là hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Vì mâu thuẫn trong việc đánh bầu cua với anh Nguyễn Thanh V, khi nhìn thấy bị hại anh Phan Văn X đi đến lán trại, chỉ vì suy nghĩ anh X đến đánh mình cho nên trong lúc giằng co với anh X thì bị cáo Nguyễn Văn D đã dùng con dao r a là hung khí nguy hiểm chém vào bên hông trái của anh X, hậu quả làm anh X bị tổn thư ng c thể 22%. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ s vụ án. Do đó, lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ, bị cáo th c hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi th c hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình s , có đầy đủ năng l c chịu trách nhiệm hình s và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật. Hành vi của bị cáo thể hiện s coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ, tính mạng, danh d người khác và có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thư ng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình s .
Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật t , trị an ở địa phư ng, kỷ cư ng pháp luật, xâm phạm sức khoẻ của người khác một cách trái pháp luật, sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là khách thể được luật hình s bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét x công khai như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện s nghiêm minh của pháp luật. Do đó, cần phải có một mức hình phạt tư ng xứng với hànhvi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người có ích và nhằm mục đích răn đe, giáo dục phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s :
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình s đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành kh n khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường cho bị hại. Trong vụ án này cũng có một phần lỗi của bị hại là cầm cây đi tìm bị cáo dẫn đến việc bị cáo cho rằng đi tìm bị cáo để đánh và khi thấy bị cáo thì bị hại cũng xông vào giằng co với bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình s nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình s khi xem xét hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn D, Nguyễn Thanh V và 06 người (chưa rõ nhân thân, lai lịch) vào ngày 22/02/2021. Do D và V đều chưa có tiền án, tiền s ; chưa xác định được tổng số tiền dùng đánh bạc và lai lịch của những người tham gia đánh bạc nên C quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ x lý sau là phù hợp.
- Đối với 01 dao r a dài khoảng 80cm, cán bằng gỗ dài 50cm, đường kính 04cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm, bản dao rộng nhất 08cm, mũi dao quắm là hung khí mà Nguyễn Văn D đã s dụng để gây thư ng tích cho anh Phan Văn X, đã bị vứt tại hiện trường. C quan điều tra đã T hành truy tìm nhưng không có kết quả nên Hội đồng xét x không xem xét.
Về x lý vật chứng: Không có.
Về trách nhiệm dân s : Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiển 50.000.000 đồng. Tai phiên tòa và trong đ n xin xét x vắng mặt không ai có yêu cầu gì về phần dân s nên Hội đồng xét x không xem xét.
Đối với người làm chứng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, nhưng qua các lời khai có trong hồ s đều phù hợp và đúng như nội dung vụ án.
Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét x thống nhất quan điểm của Kiểm sát viên.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình s s th m theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình s ; Các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thư ng tích”.
2. Về hình phạt: X phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (Một ) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình s s th m.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/6/2022) bị cáo, bị hại có quyền làm đ n kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh G L để yêu cầu xét x phúc th m. Riêng đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND n i cư trú./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh G L. - VKSND tỉnh G L. - VKSND huyện I P. - CA huyện I P. - Bị cáo; - Bị hại. - Người có QLNVLQ đến vụ án. - Chi cục THADS huyện I P - Lưu hồ s vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Bùi Viết Minh Quân |