vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Tuyên án 03/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/3/2022. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN BÌNH
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày 03-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Anh Đào

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Hương

Ông Nguyễn Văn Đại

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đức Định – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hải Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 16/5/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

Ngô Văn T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 25 tháng 11 năm 1995 tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn K, xã , huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn M, sinh năm 1963 và con bà Vũ Thị N, sinh năm 1960; đều trú tại Thôn K, xã , huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; Vợ: Lường Thị L, sinh năm 1995 và 01 con, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 46/2016/HSST ngày 30-11-2016 của Toà án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “ Trộm cắp tài sản”. (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 09-01-2018 và các quyết định của bản án).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Bình. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: + Anh Hà Việt D, sinh năm 1986 và chị Lê Thị T, sinh năm 1995. (Anh Dũng có mặt; chị Tuyến vắng mặt, đã uỷ quyền cho anh Dũng tham gia tố tụng theo văn bản uỷ quyền ngày 20/3/2022).

Đều trú tại: Thôn M, xã H, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

+ Chị Triệu Thị Thuý Q, sinh năm 1988; trú tại: Thôn M, xã H, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Hoàng Văn Y, sinh năm 1987. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn Chùa 2, xã C, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.

- Người định giá: Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Bình gồm: Bà Trần Thị Thanh Tuyền, ông Đỗ Ngọc Sơn, ông Nguyễn Văn Trình (Vắng mặt do không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 01-3-2022, Ngô Văn T điều khiển xe mô tô của mình biển kiểm soát 21B1-148.38 từ phòng trọ thuộc thôn Hợp Nhất, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đến Công ty TNHH Hoàng Gia Yên Bái. Khi đến trước cửa lán để xe của Công ty, T xuống dắt gọn một số xe vào để lấy chỗ để xe thì nhìn thấy một chiếc xe mô tô màu sơn đen đỏ, nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 88C1-231.09 vẫn cắm chìa khoá xe ở ổ khoá và đang bật, đèn tín hiệu xe vẫn sáng. T đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe này để làm phương tiện đi lại. T dắt chiếc xe mô tô của mình dựng trước lán để xe, sau đó đi vào lán lấy một chiếc áo khoác có thêu chữ ABIDAS ở trên một chiếc xe mô tô khác dựng trong lán mặc lên người và điều khiển chiếc xe lấy trộm được về phòng trọ. Trên đường về, T cởi chiếc áo khoác vứt vào bụi cây ven đường, khi đi đến khu vực tái định cư thuộc thôn Trung Tâm, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, T sử dụng chiếc cờ lê có sẵn trong cốp xe tháo biển số xe vứt xuống cống thoát nước và tháo hai gương chiếu hậu để vào trong cốp xe.

Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển chiếc xe nêu trên đến nhà Hoàng Văn Y để gửi và sau đó T đi xe ôm về phòng trọ.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/3/2022, anh Hà Việt D đã đến Công an xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình trình báo về việc bị mất xe.

Ngày 02-3-2022, T đã đến Công an huyện Yên Bình để đầu thú về hành vi lấy trộm chiếc xe mô tô của gia đình anh Hà Việt D và chiếc áo khoác của chị Triệu Thị Thuý Q như đã nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 07/3/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Yên Bình kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIRBLADE tại thời điểm tháng 3 năm 2022, đã qua sử dụng có trị giá là 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Tại Công văn số 02/HĐ ĐGTSTTT ngày 18/4/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Yên Bình thì: Chiếc áo khoác màu đỏ, trên áo có chữ ABIDAS là tài sản đã qua sử dụng, không còn giá trị mua bán, hồ sơ giấy tờ liên quan để chứng minh nguồn gốc tài sản không có nên Hội đồng định giá không có đủ căn cứ để đánh giá chất lượng tài sản và xác minh giá trị tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị anh Hà Việt D và chị Lê Thị T đã nhận lại được tài sản bị mất, không có yêu cầu bồi thường gì. Bị hại chị Triệu Thị Thuý Q không nhận lại chiếc áo khoác và cũng không yêu cầu bồi thường gì.

Bản cáo trạng số 18/CT-VKS-YB ngày 16 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn T từ 01(một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên không xem xét. Tuyên án phí và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Ngô Văn T khai báo T khẩn, nhất trí với lời luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại anh Hà Việt D, chị Triệu Thị Thuý Q đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đã đầy đủ, đảm bảo hợp pháp, khách quan.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Văn T: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 01/3/2022, Ngô Văn T đã lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô của gia đình anh Hà Việt D có trị giá là 22.500.000 đồng và một chiếc áo khoác màu đỏ, trên áo thêu chữ ABIDAS của chị Triệu Thị Thuý Q không có giá trị. Hành vi nêu trên của Ngô Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Bị cáo Ngô Văn T là người có nhân thân xấu, bản thân đã một lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” (như đã nêu tại phần lý lịch). Quá trình điều tra, xác minh tại địa phương thì Ngô Văn T tuy tuổi đời còn trẻ nhưng lười lao động. Gia đình Ngô Văn T đề nghị xử lý thật nặng đối với T để giúp cho T trở T công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã T khẩn khai báo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình; tại phiên toà các bị hại xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo T người lương thiện và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Ngô Văn T không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Hà Việt D, chị Lê Thị T, chị Triệu Thị Thuý Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:

- Đối 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIRBLADE cùng biển kiểm soát và 02 gương chiếu hậu của chiếc xe là tài sản mà Ngô Văn T trộm cắp. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hà Việt D và chị Lê Thị T là phù hợp.

- Đối với 1 chiếc áo khoác màu đỏ, trên áo có thêu chữ ABIDAS là tài sản Ngô Văn T trộm cắp của chị Triệu Thị Thuý Q, quá trình điều tra chị Lan xác định chiếc áo không còn giá trị và không yêu cầu được nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ; 01 chiếc mũ lưỡi trai thu giữ của Ngô Văn T, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho Ngô Văn T.

Đối với Hoàng Văn Y, do không biết chiếc xe mô tô là tài sản Ngô Văn T trộm cắp được nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Hoàng Văn Y là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/3/2022.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Xử lý vật chứng tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 5 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái như sau:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc áo khoác màu đỏ, trên áo thêu chữ ABIDAS.

- Trả lại cho Ngô Văn T: 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ và 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai.

( Tình trạng vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng nêu trên).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngô Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ