vanban.org

Bản án 19/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/02/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/02/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Phượng L.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2021/HS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân th nh phố T, tỉnh Bình Dương. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí v lệ phí Tòa án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Phượng L phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Phượng L.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-PT
Ngày 10-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Huy Cường.

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: B Đặng Thị Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 212/2021/TLPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thị Phượng L do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Phượng L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2021/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân th nh phố T, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Phượng L (tên gọi khác: N), sinh năm 1983, tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: số 1/110A khu phố B, phường N, th nh phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu P và bà Võ Thị Ngọc T; có chồng l Lê Văn M (bị cáo trong vụ án) và có 02 con, sinh năm 2011 và năm 2012; tiền án, tiền sự: không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi kh i nơi cư trú t ng y 02/02/2021 đến nay, có mặt.

Trong vụ án còn có 01 bị hại, 01 bị cáo do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Phượng L v Lê Văn M l con ruột v con rể của ông Nguyễn Hữu P. Trong sinh hoạt hằng ng y giữa ông P v vợ chồng bị cáo L, M thường xuyên mâu thuẫn với nhau về việc tranh chấp đất đai t năm 2017 đến nay. V o khoảng 13 giờ 30 phút ng y 25/11/2020, bị cáo Lê Văn M đi bán h ng về có mang 01 bao than đá để trước cửa nh sát vách nh của ông P, đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày ông P đi về nh nhìn thấy bao than đá nên ném b bao than đá n y ra trước cửa nh của L nên giữa L và ông P xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau. Ông P lấy cục gỗ kích thước 12x12x6cm ném L nhưng không trúng, L chạy v o nh lấy cây gỗ d i 56,5cm đánh ông P, ông P đưa tay phải lên đỡ bị thương tích gãy tay, Lê Văn M nhìn thấy L cầm cẫy gỗ đánh nhau với ông P nên cũng xông v o dùng tay đấm v o mắt trái của ông P. Ông P dùng cây chổi cọng d a cũ đã qua sử dụng d i 68cm ném về phía M và L nhưng không trúng. Sau đó L và M đi v o nh còn ông P đi đến Trung tâm y tế th nh phố T điều trị thương tích, sau đó đến Công an phường N trình báo sự việc.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 62/2021/GĐPY ng y 01/2/2021 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Bình Dương xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Nguyễn Hữu P cụ thể: vết thương 1/3 trên mặt trước cẳng chân trái 0,6x0,2cm, sẹo l nh; gãy 1/3 dưới xương trụ phải, đang cal xương còn hạn chế vận động cẳng b n tay phải; vết thương xây sát da cẳng tay trái, hông lưng phải đã l nh l 11%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2021/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân th nh phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phượng L v Lê Văn M phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị Phượng L;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phượng L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù được tính t ng y bắt bị cáo để thi h nh án.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ng y 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với bị cáo Lê Văn M.

Xử phạt bị cáo Lê Văn M 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách l 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính t ng y tuyên án sơ thẩm (28/9/2021).

Giao bị cáo Lê Văn M về Ủy ban nhân dân phường N, th nh phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp h nh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Ngo i ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 05/10/2021, bị cáo Nguyễn Thị Phượng L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: bị cáo Nguyễn Thị Phượng L thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định. Về nội dung, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Phượng L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự l đúng người, đúng tội.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo: bị cáo l con ruột của bị hại nhưng lại có h nh vi dùng cây gỗ đánh bị hại l trái pháp luật, trái với đạo đức xã hội, do đó cần xử bị cáo mức án thật nghiêm nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo th nh công dân có ích cho gia đình, xã hội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết mới, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo l không nặng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Phượng L khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm v giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: khoảng 13 giờ 30 phút ng y 25/11/2020 do xảy ra cự cải, bị cáo Nguyễn Thị Phượng L đã có h nh vi dùng cây gỗ d i 56,5cm đánh bị hại Nguyễn Hữu P, bị hại đưa tay phải lên đỡ nên bị thương tích dẫn tới gãy tay. Bị cáo Lê Văn M nhìn thấy bị cáo L cầm cẫy gỗ đánh nhau với bị hại nên có hành vi xông vào dùng tay đấm v o mắt trái của ông P, với tỷ lệ thương tích gây ra trên cơ thể của bị hại l 11%.

Hành vi của bị cáo L dùng cây gỗ d i đánh bị hại v o tay phải, dẫn đến bị hại bị gãy tay, hành vi này l rất nghiêm trọng v nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, đã xâm phạm trực tiếp đến sức kh e của bị hại là cha ruột của mình với tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích gây ra là 11%. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự l có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn hối cải về h nh vi phạm tội của mình, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, mức hình phạt m Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo l không nặng, phù hợp với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, mức hình phạt n y nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo th nh công dân có ích cho gia đình, xã hội đồng thời đáp ứng được yêu cầu công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin được hưởng án treo của bị cáo l không có cơ sở chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể t ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án; do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 344, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Phượng L.

2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2021/HS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân th nh phố T, tỉnh Bình Dương.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí v lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thị Phượng L phải nộp 200.000 đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể t ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ng y tuyên án.

Cỡ chữ