vanban.org

Bản án 19/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lường Thị M và anh Nguyễn Văn Ch.

Xử giao con Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 25/10/2019 cho chị Lường Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Nguyễn Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn anh Ch có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền thăm…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Lường Thị M xin ly hôn anh Nguyễn Văn Ch"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lường Thị M và anh Nguyễn Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HNGĐ - ST
Ngày 22/8/2022
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ - TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đào Thị Thường.

Ông Hà Văn Tý.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thúy Ngân - Thư ký TAND thị xã Nghĩa Lộ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thái Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2022/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXX - ST ngày 05 tháng 8 năm 2022; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyên đơn: Chị Lường Thị M, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Ngh, thị xã Ngh, tỉnh Y. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Ngh, thị xã Ngh, tỉnh Y. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2022 và quá trình giải quyết tại Tòa án chị Lường Thị M trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Ch kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa An ngày 21/11/2018. Sau khi kết hôn anh chị sống chung với bố mẹ chồng tại thôn Đ. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2020 do quan điểm sống không hợp, anh Ch có những hành vi lời nói không chuẩn mực đạo đức với chị dâu, chị tham gia thì anh Ch không nghe theo mà cho rằng chị đặt điều. Vì vậy nên vợ chồng không có sự tin tưởng mà nghi ngờ, đề phòng nhau. Đầu năm 2022 chị không thể chịu được lối sống đó nên đã nói cho mọi người biết những nghi ngờ của chị nhưng trong gia đình không tin mà lại có những lời nói xúc phạm đến chị. Mâu thuẫn trầm trọng không giải quyết được nên chị đã về nhà ngoại sinh sống từ đầu năm 2022. Sau đó gia đình chồng có lên nói chuyện để xác minh làm rõ mối quan hệ giữa chồng và chị dâu nhưng không giải quyết được mà ngày càng mâu thuẫn hơn, chị dâu có hành vi đánh chị nhưng anh Ch không can ngăn mà bỏ mặc nghe theo gia đình. Qua sự việc đó chị M cho rằng chồng mình không còn yêu thương bao bọc vợ như vậy là không thể chấp nhận được, tình cảm vợ chồng chấm dứt từ đó nên chị làm đơn xin ly hôn với anh Ch.

Về con chung: Chị và anh Ch có 01 con là Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 25/10/2019, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản: Chị M không đề nghị Tòa án giải quyết.

Để chứng minh cho yêu cầu của mình chị M đã nộp cho Tòa án chứng cứ: Giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ cấp ngày 21/11/2018 đối với Lường Thị M – Nguyễn Văn Ch. Xác nhận thông tin về cư trú (của chị M, anh Ch). Căn cước công dân Lường Thị M (bản chứng thực). Trích lục thay đổi hộ tịch Nguyễn Minh Ph, GKS Nguyễn Thiên Ph (sao chứng thực). Bảng kê tin nhắn giữa chị và anh Ch.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn anh Nguyễn Văn Ch trình bày: Anh và chị M đăng ký kết hôn tự nguyện theo quy định pháp luật, sau khi kết hôn anh chị sống cùng gia đình anh, trong thời gian chung sống chị M có nghi ngờ anh và chị dâu có quan hệ không đúng mực, lời khai của chị M là vu khống đặt điều và không có cơ sở. Anh đã nói nhiều lần nhưng chị M không tin mà tự bỏ về nhà mẹ đẻ sống. Anh xác định vợ chồng không thể hàn gắn được, tình cảm đã hết nên cũng nhất trí ly hôn. Về con chung anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 25/10/2019 với lý do con chung ở với anh sẽ tốt hơn về điều kiện học tập, về kinh tế anh có thu nhập từ 12 đến 13 triệu đồng với công việc làm thợ xây dựng, anh không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung anh Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án xác minh tại địa phương nơi anh Ch và chị M sinh sống được thôn bản cho biết: Quá trình chung sống tại thôn Đ anh chị có mâu thuẫn gia đình do cả hai thường đi làm xa nên nảy sinh ghen tuông, không tin tưởng nhau dẫn đến tranh cãi. Thôn bản không nhận được báo cáo nên không biết cụ thể nguyên nhân mâu thuẫn là gì và xác định chị M đã cùng con bỏ về nhà ngoại sinh sống từ đầu năm 2022. Xác minh tại bản H nơi chị M hiện nay sinh sống cho biết, chị M đưa con về sống từ đầu năm 2022 với bố mẹ đẻ, gia đình bên ngoại không vi phạm gì, chấp hành tốt quy định tại địa phương, gia đình không thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Chị M về làm ruộng và lao động tự do tại địa phương.

Xác minh tại gia đình anh Ch được ông Nguyễn Văn Đ là bố đẻ anh Ch cho biết, quá trình chung sống anh chị Ch M có mâu thuẫn với nhau, chị M không quan tâm đến gia đình chồng con mà hay có lời lẽ bêu xấu danh dự gia đình chồng, khi anh chị đi làm xa có gửi tiền về nhờ ông bà chăm sóc con của anh chị, nay chị M làm đơn ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định, về việc nuôi dưỡng con chung, gia đình nhất trí để chị M nuôi dưỡng con chung nhưng để cháu học tại xã Ngh và được quyền thăm nom cháu, hai bên gia đình cùng nuôi dưỡng và có trách nhiệm với cháu.

Tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải anh Ch và chị M không bổ sung tài liệu gì, chị M vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là đề nghị ly hôn và được quyền nuôi con. Anh Ch nhất trí thuận tình ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tài sản cả hai bên đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị M không thay đổi bổ sung yêu cầu gì, xác định vợ chồng không thể chung sống với nhau do tình cảm đã hết nên đề nghị giải quyết được ly hôn với anh Ch và được nuôi con Nguyễn Minh Ph vì cho rằng con còn nhỏ lại hay ốm nên ở với mẹ sẽ tốt hơn, chị hiện nay làm tại Nghĩa Lộ có thu nhập và hàng ngày chăm sóc con đảm bảo. Anh Ch thống nhất ly hôn, đề nghị được trực tiếp nuôi con với lý do con ở với anh sẽ được học tập, sinh sống trong môi trường tốt hơn ở với chị M. Cả chị M và anh Ch đều không yêu cầu cấp dưỡng nếu được nuôi con chung. Tài sản chung cả hai bên đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ có quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự quy định của luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX công nhận chị Lường Thị M thuận tình ly hôn anh Nguyễn Văn Ch. Về con chung, xử giao con Nguyễn Minh Ph cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, anh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lường Thị M khởi kiện về ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Văn Ch có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Ngh, thị xã Nghĩa Lộ. Theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, quan hệ pháp luật tranh chấp là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung.

Về yêu cầu xin ly hôn:

Chị Lường Thị M và anh Nguyễn Văn Ch kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ vào ngày 21/11/2018. Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống sau khi kết hôn anh chị đều thừa nhận có mâu thuẫn với nguyên nhân là vợ chồng không còn tin tưởng yêu thương nhau. Chị M cho rằng anh Ch có những hành vi, lời nói không chuẩn mực đạo đức với chị dâu nên dẫn đến việc nghi ngờ tình cảm giữa anh Ch không chung thủy, lối sống không lành mạnh. Anh Ch không thừa nhận và cho rằng chị M vu khống, đặt điều thiếu cơ sở nên đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm vợ chồng và còn ảnh hưởng đến sự hòa thuận ấm êm trong gia đình anh trai chị dâu. Mâu thuẫn trầm trọng khi hai vợ chồng không giải quyết được dứt điểm những mối nghi ngờ nên chị M đã bỏ về nhà ngoại sống ly thân với anh Ch từ đầu năm 2022, sau khi ly thân anh Ch và gia đình đã đến nói chuyện giải quyết mâu thuẫn hiểu lần nhưng không dàn xếp được mà lại trầm trọng hơn khi chị dâu và chị M xô sát với nhau. Cả chị M và anh Ch đều xác định vợ chồng không còn tình cảm dành cho nhau nữa, không thể tiếp tục cuộc sống chung nên thống nhất ly hôn.

Như vậy, Hội đồng xét xử xác định cuộc sống chung trong thời kỳ hôn nhân của anh chị có mâu thuẫn, vợ chồng không còn tin tưởng yêu thương và tôn trọng nhau, cả hai không cùng nhau tạo dựng cuộc sống chung. Do vậy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được, vì vậy nên việc chị M làm đơn xin ly hôn với anh Ch là có cơ sở. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị M và anh Ch cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục nên cùng thống nhất ly hôn, việc thỏa thuận đó là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức và vi phạm pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Luật Hôn nhân và gia đình công nhận sự thuận tình về ly hôn giữa chị M và anh Ch.

Về con chung: Chị M và anh Ch có 01 con chung là Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 25/10/2019. Việc chị M và anh Ch cùng có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định. Chị M hiện nay đang ở cùng với gia đình và trực tiếp chăm sóc con chung, gia đình chị được thôn bản xác nhận không phải là hộ nghèo hay cận nghèo, chị có công việc và thu nhập từ lao động tự do. Gia đình chấp hành tốt các quy định của Nhà nước và địa phương nơi cư trú, không vi phạm gì về đạo đức. Anh Ch cho rằng việc con chung ở với chị M sẽ không tốt bằng khi ở cùng với gia đình anh nhưng anh Ch cũng thừa nhận nếu được nuôi con sẽ nhờ ông bà chăm sóc còn anh đi làm ăn xa nhà, do đó anh không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung hàng ngày được. Mặc dù anh Ch đưa ra nguồn thu nhập cao hơn chị M để đảm bảo cho việc nuôi dưỡng con chung tốt hơn chị M (từ 12 đến 13 triệu đồng) nhưng anh cũng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh, hơn nữa gia đình anh Ch cũng nhất trí việc con chung của anh chị sẽ ở với mẹ và hai bên cùng nhau chăm sóc giáo dục. Xét về môi trường học tập thì tại xã Nghĩa An và xã Phúc Sơn đều là các xã có các trường học đạt chuẩn ngang như nhau.

Hội đồng xét xử thấy con chung của anh chị còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần có cha hoặc mẹ trực tiếp chăm sóc, giáo dục hàng ngày. Với những đánh giá trên thì chị M có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung hơn anh Ch để đảm bảo cho con chung được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt nhất về thể chất và tinh thần. Do đó cần giao cháu Nguyễn Minh Ph cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cũng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình là “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Chị M không đề nghị anh Ch phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản: Chị M và anh Ch đều không đề nghị tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lường Thị M và anh Nguyễn Văn Ch.

2. Xử giao con Nguyễn Minh Ph, sinh ngày 25/10/2019 cho chị Lường Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi. Anh Nguyễn Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn anh Ch có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền thăm nom con chung.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lường Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số AA/2021/0001184 ngày 06/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ. Chị M đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Lường Thị M và anh Nguyễn Văn Ch có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ