- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05-4-2022 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mộng Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tuyển và ông Lương Tấn Nghị
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam – Thư ký TAND huyện T, tỉnh Phú Yên.
Ngày 05/4/2021, tại trụ sở TAND huyện T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/2021/TLST – HNGĐ ngày 22 tháng 9 năm 2021; về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/02/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lê Thị L, sinh năm 1975
Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
2. Bị đơn: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1976
Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Lê Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Vợ chồng tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là UBND thị trấn P) vào năm 1997. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn vì vợ chồng bất đồng quan điểm hay cãi nhau, anh Đúng thường xuyên nhậu nhẹt về đánh vợ. Đến nay không còn tình cảm nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Có 04 con chung tên Nguyễn Văn Đ1 - sinh ngày 11/12/1997, Nguyễn Văn Đ2 - sinh ngày 18/10/2001, Nguyễn Văn Đ3 - sinh ngày 22/10/2004 và Nguyễn Văn Đ4 - sinh ngày 13/4/2008, hiện các con do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ3, cháu Đ4, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Đ1, cháu Đ2 đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nên nguyên đơn không có yêu cầu gì.
Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời trình bày: Về hôn nhân, bị đơn thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không lớn, anh chỉ có đánh chị vài tát tai nên mong muốn vợ chồng đoàn tụ, không đồng ý ly hôn. Về con chung: Có bốn con chung như nguyên đơn trình bày, con có nguyện vọng ở với ai thì người đó nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên đoàn tụ nhưng không thành.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét ý kiến trình bày của đương sự, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp ly hôn; bị đơn có hộ khẩu tại huyện T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện T theo quy định tại Điều 28, 35, 39 của BLTTDS.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227 của BLTTDS.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân có đăng ký tại UBND xã H (nay là UBND thị trấn P) vào năm 1997 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn vì vợ chồng bất đồng quan điểm hay cãi nhau, anh Đ có hành vi bạo lực gia đình; sự việc nêu trên có xác nhận của Trưởng Khu phố M, thị trấn P. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: Nguyên đơn xin được nuôi hai con chung Nguyễn Văn Đ3 - sinh ngày 22/10/2004 và Nguyễn Văn Đ4 - sinh ngày 13/4/2008. HĐXX xét thấy lâu nay cháu Đ3, cháu Đ4 do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng và đều có nguyện vọng ở với nguyên đơn, nên tiếp tục giao hai cháu cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
Đối với hai con chung Nguyễn Văn Đ1 - sinh ngày 11/12/1997 và Nguyễn Văn Đ2 - sinh ngày 18/10/2001, đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, nguyên đơn không có yêu cầu gì nên không xét.
Về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 227 BLTTDS; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị L.
1. Về hôn nhân: Nguyên đơn Lê Thị L được ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn Đ.
2. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Văn Đ3 - sinh ngày 22/10/2004 và Nguyễn Văn Đ4 - sinh ngày 13/4/2008 cho nguyên đơn Lê Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Nguyên đơn Lê Thị L phải chịu 300.000đồng tiền án phí HNGĐ sơ thẩm, đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002433 ngày 22/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Phú Yên.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND thị trấn P (GCNKH quyển 08, số 11, ngày 17/3/1997); - VKSND huyện Tây Hòa; - Chi cục THADS huyện Tây Hòa; - TAND tỉnh Phú Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mộng Tuyền |