vanban.org

Bản án 19/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị Thảo N ly hôn với anh Cao Văn P.

Về nuôi con chung: Giao hai con là cháu Cao Quốc Thái, sinh ngày 27/07/2009 và cháu Cao Thái Bình, sinh ngày 11/07/2013 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh P được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con giữa Bùi Thị Thảo N và Cao Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị Thảo N ly hôn với anh Cao Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16-3-2022
V/v tranh chấp xin ly hôn và
giải quyết việc nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Dũng

2. Bà Phạm Hồng Gái

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.

Ngày 16 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 258/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

- N đơn: Chị Bùi Thị Thảo N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ 10, ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Cao Văn P, sinh năm 1986. Hộ khẩu thường trú tại: Tổ 4, ấp TĐ, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, N đơn chị N trình bày: Anh chị tự quen biết, yêu thương nhau, được hai bên gia đình chấp thuận cho tổ chức đám cưới vào năm 2008 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 02/7/2009. Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là Cao Quốc Thái, sinh ngày 27/07/2009 và Cao Thái Bình, sinh ngày 11/07/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh P, nhưng từ đầu năm 2018, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau ngày càng gay gắt. Chị nhận thấy hôn nhân không còn hạnh P, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được, nếu kéo dài chỉ làm khổ nhau nên chị khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh P. Chị nhận nuôi hai con cho đến khi các cháu thành niên và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, chị xác nhận quá trình chung sống với anh P không tạo lập được tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Cao Văn P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày tại Tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho chị N, anh P, nhưng anh chị không có mặt tại Tòa, riêng chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 02/7/2009, dó đó hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình chung sống vợ chồng, giữa chị N và anh P thiếu sự quan tâm, thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, khiến cho cuộc sống hôn nhân rạn nứt, xảy ra mâu thuẫn và cãi vã nhau, chị N không còn tình cảm với anh P, vợ chồng chung sống không còn hạnh P, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị N về việc cho chị ly hôn với anh P.

Về nuôi con chung: Từ khi anh chị sống ly thân (năm 2009), hai con của anh chị là cháu Cao Quốc Thái, sinh ngày 27/07/2009 và cháu Cao Thái Bình, sinh ngày 11/07/2013 ở với chị N, chị N vẫn đảm bảo chăm lo tốt cuộc sống cho các con, cả về vật chất và tinh thần, nay vợ chồng ly hôn, chị tự nguyện nhận nuôi hai con và các con có nguyện vọng sống với chị, do đó Hội đồng xét xử xét nên giao hai cháu Cao Quốc Thái và Cao Thái Bình cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh P được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: N đơn chị N yêu cầu ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị N phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56 và khoản 2 và khoản 3, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị Thảo N ly hôn với anh Cao Văn P.

2. Về nuôi con chung: Giao hai con là cháu Cao Quốc Thái, sinh ngày 27/07/2009 và cháu Cao Thái Bình, sinh ngày 11/07/2013 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh P được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị N đã tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001320 ngày 22/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị N đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ