vanban.org

Bản án 19/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.

* Căn cứ vào 147, 227, 228, 235, 246 Bộ luật tố tụng dân sự. * Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ L-Nguyễn Trần Đình L1"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số : 19/2022/HNGĐ-ST
Ngày : 30/05/2022
V/v “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

* Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

* Các Hội thẩm nhân dân : Ông Lê Quốc Tân

Ông Đỗ Công Luận

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa : Bà Lê Thị Phương Thúy - CBTA

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK tham gia phiên tòa :

Bà Thái Thị Hương - KSV.

Hôm nay, ngày 30 tháng 05 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số : 02/2022/TLST-HNGĐ ngày 04/01/2022 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXX-ST ngày 25/04/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 18/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11/05/2022 giữa các đương sự sau :

* Nguyên đơn : Chị Huỳnh Thị Mỹ L - Sinh năm 1997.

Trú tại : Thôn Xuân Đ - Diên X - DK.

( Có mặt )

* Bị đơn : Anh Nguyễn Trần Đình L1 - Sinh năm 1995.

Trú tại : Thôn Xuân N - Diên X - DK.

( Vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN :

- Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mỹ L trình bày :

Tôi và anh Nguyễn Trần Đình L1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015 nhưng đến năm 2016 mới làm đăng ký kết hôn tại UBND xã Diên X - DK. Vợ chồng tôi có 01 con chung là :

Nguyễn Huỳnh Hoài L2 - Sinh ngày 24/03/2016.

Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do anh L1 không có trách nhiệm với gia đình, luôn nghi ngờ tôi rồi ghen bóng gió mặc dù bản thân tôi không làm gì có lỗi, thường xuyên nhậu say, chửi và đánh đập tôi, xúc phạm cha mẹ tôi nhiều lần. Bên cạnh đó anh L1 có mối quan hệ trai gái không rõ ràng, vợ chồng không hợp nhau về lối sống dẫn đến kình cãi nhiều lần không có hạnh phúc, tôi cũng đã cho anh L1 thời gian để sửa đổi tính tình nhưng vẫn không cải thiện được. Từ tháng 06/2020 giữa tôi và anh L1 đã tự sống ly thân, anh L1 cũng không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình và không quan tâm đến con chung, tôi xác định không còn tình cảm với anh L1 nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn.

Về con chung : Tôi xin nuôi cháu L2 và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung : Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định :

- Về thủ tục : Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Trần Đình L1 đến tòa nhiều lần để giải quyết nhưng anh L1 vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được, Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục và đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất, tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Trần Đình L1 vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

-

- Về nội dung : Chị Huỳnh Thị Mỹ L và anh Nguyễn Trần Đình L1 chung sống với nhau vào năm 2015 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2016 tại UBND xã Diên X- DK. Đây là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống chị L và anh L1 đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên chị L xin ly hôn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa xét : Việc mâu thuẫn của chị L và anh L1 xảy ra do cách sống hai bên không phù hợp, theo chị L trình bày thì anh L1 không quan tâm gì đến gia đình, hay nhậu say và đánh đập chị, xúc phạm cha mẹ chị, vợ chồng chung sống nhưng không có niềm tin với nhau, thường xuyên kình cãi nhiều việc trong cuộc sống và không có điểm chung. Hiện tại chị L và anh L1n đã không còn sống chung từ năm 2020 đến nay, tại biên bản xác minh ngày 07/04/2022 của Công an xã Diên X thì anh L1 có hộ khẩu tại địa chỉ trên và hiện nay vẫn làm ăn sinh sống tại địa phương nhưng khi Tòa án triệu tập thì anh L1 không đến tòa, điều này càng khẳng định rằng anh L1 cũng không quan tâm gì đến hạnh phúc gia đình. Do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

- Về con chung : Giao cháu Nguyễn Huỳnh Hoài L2 sinh năm 2016 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, việc cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết, khi nào có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác.

- Về tài sản chung : Anh L1 vắng mặt nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Về án phí : Chị L phải chịu án phí HNGĐ/ST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên !

QUYẾT ĐỊNH :

* Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.

* Căn cứ vào 147, 227, 228, 235, 246 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử :

1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn : Chị Huỳnh Thị Mỹ L được ly hôn anh Nguyễn Trần Đình L1.

2/ Về con chung : Giao cháu Nguyễn Huỳnh Hoài L2 - Sinh ngày 24/03/2016 cho chị Huỳnh Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh L1 đến khi nào chị L có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác.

Anh Nguyễn Trần Đình L1 được quyền thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung : Anh Nguyễn Trần Đình L1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết và chị L xác nhận không có nợ chung.

4/ Về án phí : Chị Huỳnh Thị Mỹ L phải nộp 300.000đ án phí HNGĐ/ST. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 7643 ngày 04/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện DK.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ