vanban.org

Bản án 19/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị T ly hôn với anh P (chấm dứt hôn nhân).

Về con chung: Giao cháu H - sinh ngày 10/01/2006 và cháu N- sinh ngày 27/8/2010 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu đến tuổi trưởng thành. Anh P được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, chị T không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị T ly hôn với anh P (chấm dứt hôn nhân).
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:19/2022/HNGĐ-ST
Ngày 17/5/2022
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Hồng Duy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh và ông Nguyễn Tiến Tịnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Bà Lê Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:190/2021/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2021, về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 13/5/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị T, sinh năm 1978, có mặt

Trú tại: TThôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

2. Bị đơn: Anh P, sinh năm 1974, vắng mặt.

Địa chỉ: TThôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị T trình bày: Chị T và anh P kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông vào ngày 29/8/2006. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và không bị ép buộc.

Chị T và anh P có 02 con chung: Cháu H - sinh ngày 10/01/2006 và cháu N - sinh ngày 27/8/2010. Cháu H đã bỏ học và đang ở nhà với anh P, còn cháu N học lớp 06 trường C xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và đang ở với chị T.

Tài sản chung có nhưng không yêu cầu giải quyết. Tài sản riêng và công nợ không có.

Mẫu thuẫn dẫn đến chị T xin ly hôn: Mâu thuẫn trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Anh P thường xuyên uống rượu, đánh đập hành chị T. Dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột trong gia đình, vợ chồng không còn thương yêu, không quý trọng nhau. Từ đó, chị T và anh P đã sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay.

Nay chị T xin được ly hôn với anh P. Con chung: Chị T xin nuôi cháu H - sinh ngày 10/01/2006 và cháu N - sinh ngày 27/8/2010. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung có nhưng không yêu cầu giải quyết, tài sản riêng và công nợ không có.

- Bị đơn anh P: Anh P đã được Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tống đạt trực tiếp và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Nhưng anh P vẫn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án xác định người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ quy định của pháp luật. Duy chỉ, bị đơn anh P không chấp hành theo quy định của pháp luật, cố tình vắng mặt không có lý do, anh P tự tước quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn và giải quyết cho chị T được ly hôn với anh P (chấm dứt quan hệ hôn nhân). Giao cháu H - sinh ngày 10/01/2006 và cháu N - sinh ngày 27/8/2010 cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Buộc Chị T chịu án phí 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn giữa nguyên đơn chị T và anh P. Bị đơn anh P đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh P: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo hòa giải, Thông báo phiên họp và hòa giải, Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa trực tiếp và niêm yết theo quy định pháp luật đối với anh P, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Việc vắng mặt của anh P không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt anh P là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt anh P là đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa anh P đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như đưa ra quan điểm để phán bác lại yêu cầu của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, anh P phải chịu hậu quả về việc không đưa ra được chứng cứ để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về hôn nhân: Chị T và anh P xây dựng gia đình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, tự do đi đến hôn nhân. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông vào ngày 29/8/2006 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 63. Do đó, hôn nhân giữa chị T và anh P là hợp pháp.

Về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn: chị T và anh P có những mâu thuẫn trong gia đình, trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Anh P thường xuyên uống rượu, đánh đập hành chị T. Dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột trong gia đình, vợ chồng không còn thương yêu, không quý trọng nhau, không chăm sóc, không giúp đỡ nhau, chỉ biết bổn phận của riêng mình, bỏ mặc nhau. Chị T và anh P đã sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay, hai người sống ở hai nơi khác nhau và không còn liên lạc với nhau.

Như vậy, mâu thuẫn giữa chị T và anh P đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn thương yêu, không quan tâm, hạnh phúc gia đình không có. Do đó, để giải phóng cho hôn nhân không còn mục đích, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn và cho chị T được ly hôn với anh P.

Con chung: Chị T xin được quyền nuôi dưỡng cháu H - sinh ngày 10/01/2006 và cháu N- sinh ngày 27/8/2010. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, anh P vắng mặt và không đưa ra quan điểm về con cái. Qua làm việc với cháu N, thì cháu N có nguyện vọng ở với chị T. Cháu H hiện không còn đi học và không đến Tòa án để làm về việc nguyện vọng ở với ai, cháu H đã nghỉ học nên không thể làm việc trực tiếp với cháu H. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu H và cháu N nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cho hai cháu cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp.

Cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

Tài sản chung có nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết. Tài sản riêng và nợ chung: Không có.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấn chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 94; Điều 144; Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Cho chị T ly hôn với anh P (chấm dứt hôn nhân).

2. Về con chung: Giao cháu H - sinh ngày 10/01/2006 và cháu N- sinh ngày 27/8/2010 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các cháu đến tuổi trưởng thành. Anh P được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, chị T không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định các Điều 84, 107, 110,116 của Luật hôn nhân và gia đình.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000522 ngày 13/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ